- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Ngọc Tr phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc Tr phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HSST Ngày: 30-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Phát
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch
Bà Lê Thị Bích Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2022/HSST ngày 03 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Đỗ Ngọc Tr (Tên gọi khác: Không), sinh năm 2001 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Ngọc T, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1972; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 05/11/2021 đến ngày 10/11/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)
Bị hại: Trường Cao đẳng T. Địa chỉ: xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 15/5/2021, Đỗ Ngọc Tr đi bộ từ phòng trọ đến Trường cao đẳng T, thuộc ấp Thanh Hóa, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và mang theo 01 chiếc cưa sắt cầm tay. Khi đến phòng 1.1 khu nhà E, Tr quan sát xung quanh phát hiện không có người trông coi nên sử dụng cưa sắt để cắt ổ khóa, đột nhập vào bên trong và lấy 01 chiếc máy chụp hình nhãn hiệu Canon EOS 90D màu đen và 01 chiếc máy quay phim nhãn hiệu Sony FDR-AXP5 màu đen bỏ vào ba lô rồi đem về cất giấu tại nhà thuộc ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Trên đường đi Tr đã vứt bỏ 02 ba lô và 01 cưa sắt cầm tay vào thùng rác bên lề đường. Đến ngày 16/5/2021 Tr mang chiếc máy quay phim nhãn hiệu Sony FDR-AXP5 màu đen đến cửa hàng Camera X, địa chỉ 367 đường L, phường X, quận B, thành phố Hồ Chí Minh do bà Nguyễn Thị Kiều Nh làm chủ bán với giá 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) và sử dụng số tiền này để mua sắm các phụ kiện trang bị cho chiếc máy chụp hình nhãn hiệu Canon EOS 90D hết 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền còn lại Tr tiêu xài cá nhân hết. Ngày 04/11/2021 Tr đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp tài sản đã trộm cắp được là 01 chiếc máy chụp hình nhãn hiệu Canon EOS 90D màu đen.
Ngày 03/12/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trảng Bom kết luận: 01 chiếc máy chụp hình nhãn hiệu Canon EOS 90D màu đen có trị giá là 24.660.000 đồng (hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) và 01 chiếc máy quay phim nhãn hiệu Sony FDR-AXP55 màu đen có trị giá là 24.720.000 đồng (hai mươi bốn triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản định giá là 49.380.000 đồng (bốn mươi chín triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 máy chụp hình nhãn hiệu Canon EOS 90D màu đen là tài sản của Trường cao đẳng T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho đại diện của Trường; Đối với 01 máy quay phim nhãn hiệu Sony FDR-AXP55 màu đen, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã làm việc với bà Nguyễn Thị Kiều Nhung (chủ cửa hàng Camera Xuân Sơn) nhưng bà Nhung không thừa nhận việc đã mua máy quay phim này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được; Đối với 01 cưa sắt cầm tay và 02 ba lô màu đen Tr sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội do Tr đã vứt bỏ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không thu hồi được.
Về dân sự: Bị cáo Đỗ Ngọc Tr đã tự nguyện bồi thường số tiền 24.720.000 đồng (hai mươi bốn triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) là trị giá của 01 máy quay phim nhãn hiệu Sony FDR-AXP55 cho Trường cao đẳng T. Đại diện Trường đã nhận tiền và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKS-TB ngày 01/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom để xét xử đối với bị cáo Đỗ Ngọc Tr về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc Tr từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng:
Máy chụp hình hiệu Canon EOS 90D màu đen đã thu hồi trả lại cho Trường cao đẳng T. Máy quay phim hiệu Sony FDR-AXP55 màu đen không thu hồi được.
- Về dân sự: Bị cáo Tr đã bồi thường số tiền 24.720.000 đồng (hai mươi bốn triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng), đại diện Trường cao đẳng T không có yêu cầu gì khác.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Ngọc Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của đại diện bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 18 giờ ngày 15/5/2021 tại Trường cao đẳng T, thuộc ấp Thanh Hóa, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai bị cáo Tr đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy chụp hình nhãn hiệu Canon EOS 90D màu đen có trị giá 24.660.000 đồng (hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) và 01 máy quay phim nhãn hiệu Sony FDR-AXP55 màu đen có trị giá 24.720.000 đồng (hai mươi bốn triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) là tài sản của Trường cao đẳng T. Tổng trị giá tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 49.380.000 đồng (bốn mươi chín triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt đủ nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện đầu thú và bồi thường, khắc phục hậu quả; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị cáo hiện đang điều trị bệnh ung thư, đại diện bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hiện đang là sinh viên học tại Trường cao đẳng T, đồng thời có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là phù hợp, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
01 cưa sắt cầm tay và 02 ba lô màu đen bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội do Tr đã vứt bỏ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không thu hồi được.
Máy chụp hình hiệu Canon EOS 90D màu đen đã thu hồi trả lại cho Trường cao đẳng T. Máy quay phim hiệu Sony FDR-AXP55 màu đen không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 24.720.000 đồng (hai mươi bốn triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) là trị giá máy quay phim nhãn hiệu Sony FDR-AXP55 màu đen cho bị hại. Đại diện bị hại Trường cao đẳng T không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc Tr phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc Tr 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là (04) bốn năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/3/2022)
Giao bị cáo Đỗ Ngọc Tr cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Trường cao đẳng T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - UBND xã nơi b/c cư trú; - VKSND H.Trảng Bom; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Công an H.Trảng Bom; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai; - CC.THADS H.Trảng Bom; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tấn Phát |