vanban.org

Bản án 47/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 30/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội dA: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 30/8/2022). Giao bị cáo Nguyễn Duy K cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội dA: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢƠNG SƠN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/HSST
Ngày 30/8/2022

NHÂN DA

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Sỹ Huyền, ông Hoàng C Hải.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Đức Nam, thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện VKSND huyện Hương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương, Kiểm sát viên.

Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2022/TLST- HS, ngày 27/7/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy K; sinh ngày: 20 tháng 10 năm 1993; tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị H; vợ con: Chưa có; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/5/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Bà Hồ Thị H, sinh năm: 1938. Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đào Thị L, sinh năm: 1987. Đại chỉ: Thôn 1, xã S1, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Buôn bán. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Nguyễn Phi C, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Thôn 1, xã S1, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Buôn bán. Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Anh Nguyễn Bá T, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Phường H, thành phố V, tỉnh N; nghề nghiệp: Buôn bán. Vắng mặt tại phiên tòa.

4. Ông Nguyễn Đức A, sinh năm: 1969. Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Làm ruộng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Duy K, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà nội là Hồ Thị H, sinh năm 1938 ở gần nhà. Khoảng 12 giờ ngày 16/5/2022, biết bà H đi vắng, một mình K đi bộ đến nhà bà H. Khi đến nhà bà H, thấy cửa nhà không đóng, K đi vào và thấy chìa khóa cửa buồng ngủ treo gần cửa, nên K cầm lấy và mở cửa buồng ngủ để vào lục tìm tài sản. Khi vào trong buồng ngủ, K thấy một hộp trụ tròn bằng kim loại để ở ghế gỗ phía bên trái cửa buồng, bên trong hộp trụ tròn có một cọc tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gồm nhiều mệnh giá khác nhau và ba hộp nhựa tròn màu đỏ loại đựng vàng, K mở ra xem thì thấy trong mỗi hộp đựng một chiếc nhẫn tròn bằng vàng 9999, loại một chỉ. K liền lấy toàn bộ số tiền, nhưng không đếm cùng với 03 hộp nhựa đựng vàng nói trên bỏ vào túi quần Soóc đang mặc. Tiếp tục tìm kiếm, K thấy một hộp trụ tròn bằng kim loại ở phản gỗ góc phía bên phải buồng, bên trong có một hộp vuông không có nắp đậy đựng một cọc tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiều mệnh giá 100.000 đồng, 200.000 đồng và 500.000 đồng, K lấy trộm toàn bộ số tiền đó bỏ vào túi quần sau đang mặc. Sau khi lấy được tiền và vàng thì K đi ra ngoài khóa cửa buồng lại rồi để chìa khóa vào vị trí cũ và đi về nhà. Khi về đến nhà, K lấy số tiền vừa trộm được kiểm đếm thì được 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, K cầm toàn bộ số tiền và vàng trộm được rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đeo BKS 38H1-071B của bố mình là ông Nguyễn Đức A, sinh năm 1969 đi đến tiệm vàng bạc „P” ở Tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh bán cho chị Đào Thị L, sinh năm 1987, có hộ khẩu thường trú tại thôn 1, xã S, huyện H là chủ tiệm vàng. K đưa cho chị L xem 03 chiếc nhẫn vàng vừa trộm được, sau khi xem nhẫn chị L đồng ý mua với giá 16.023.000 đồng, thì K đồng ý. Nguyễn Duy K lấy thêm số tiền 5.500.000 đồng trong số tiền vừa trộm được của bà H đưa cho chị L, nhờ chị L chuyển cùng với số tiền bán vàng, tổng là 21.523.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Viettinbank của mình số 10887063530B mang tên Nguyễn Duy K, số tiền còn lại 4.500.000đ, K bỏ vào cùng với số tiền 5.000.000 trộm được để vào trong túi quần K đang mặc. Sau khi chị L chuyển được tiền, thì K đã chuyển hết số tiền 21.5 23.000đ trả nợ cho một người tên H ở Hà Nội (K quen trước đó nhưng không rõ địa chỉ cụ thể) theo số tài khoản 1058718785B mang tên “Nguyen Dac Q” rồi đi về. Trên đường về nhà, K đã vứt 03 hộp nhựa đựng vàng xuống dòng nước đang chảy ở khu vực đập tràn lối vào thôn A, xã S. Số tiền 9.500.000đ K cũng làm rơi trên đoạn đường về nhà. Về phía chị L, sau khi mua 03 chiếc nhẫn vàng của K đã đưa cho chồng là A Nguyễn Phi C, sinh năm 1977 gửi bán cho A Nguyễn Bá T, sinh năm 1977, trú tại phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An là chủ tiệm vàng bạc “T A‟‟, A T đã bán số vàng này cho người khác không rõ tên, tuổi, địa chỉ.

Đến khoảng 17 giờ chiều ngày 16/5/2022, biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện và nhận thấy không thể trốn tránh pháp luật nên Nguyễn Duy K đã đến Cơ quan điều tra C an huyện H đầu thú đồng thời giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đeo BKS 38H1-071B.

* Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Duy K đã bồi thường đầy đủ tài sản cho bà Hồ Thị H số tiền 15.000.000đ và 03 chỉ vàng loại 9999. Bà H sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Duy K.

* Vật chứng vụ án: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đeo BKS 38H1-071B đã trả cho chủ sở hữu.

* Tại kết luận định giá số 16/KLĐG-HĐĐGTS ngày 26/5/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện H, kết luận: 03 chiếc nhẫn vàng, loại vàng 9999, mỗi nhẫn có khối lượng 01 chỉ nói trên có giá 16.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS-HS, ngày 27 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố Nguyễn Duy K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đeo BKS 38H1-071B, Cơ quan điều tra C an huyện H đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Duy K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Người có quyền lợi liên quan: Chị Đào Thị L, anh Nguyễn Phi C, anh Nguyễn Bá T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Bị cáo Nguyễn Duy K, người bị hại bà Hồ Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức A và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị L, anh C, anh T không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo nên quyết định xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Duy K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định khoảng 12 giờ ngày 16/5/2022 Nguyễn Duy K có hành vi lén lút vào nhà bà Hồ Thị H lấy trộm số tiền 15.000.000 đồng và 03 chỉ vàng loại 9999 có giá trị 16.500.000 đồng đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội dA và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có gì oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ban ngày, chứng tỏ sự liều lĩnh và coi thường pháp luật. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xét xử bị cáo mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có ông bà nội là Nguyễn Lê T, Hồ Thị H được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần căn cứ các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo Nguyễn Duy K được hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm.

Đối với chị Đào Thị L, anh Nguyễn Phi C và anh Nguyễn Bá T là những người mua vàng do K trộm được, tuy nhiên nhưng người này không biết số vàng nói trên do K trộm cắp mà có, quá trình điều tra Cơ quan chức năng không có căn cứ để xử lý nên hội đồng xét xử miễn xét.

Đối với người tên H mà K đã lấy số tiền trộm được mà có trả nợ cho H trong quá trình làm ăn tại Hà Nội, do K không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh nên hội đồng xét xử miễn xét.

Đối với chủ tài khoản “Nguyen Dac Q”, Cơ quan điều tra đã xác minh tại Ngân hàng Viettinbank xác định chủ tài khoản là Nguyễn Đắc Q, sinh năm 1990, trú tại 30 H, phường N, quận B, Hà Nội. Tuy nhiên quá trình điều tra qua xác minh tại địa bàn phường N, quận B, Hà Nội không có thông tin của người có tên trên, Cơ quan điều tra không có căn cứ kết luận nên hội đồng xét xử miễn xét.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Hồ Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về vật chứng vụ án: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đeo BKS 38H1-071B, Cơ quan điều tra C an huyện H đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử:

- Về tội dA: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 30/8/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Duy K cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Duy K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Duy K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Duy K; người bị hại bà Hồ Thị Hương; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đào Thị L, anh Nguyễn Phi C, anh Nguyễn Bá T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày niêm yết bản án chính theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ