- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chống A S phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chống A S phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH B DƢƠNG ———————— Bản án số: 47/2022/HS-ST Ngày 22-02-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, T NH NH DƯ NG
- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Minh Hiếu.
2. Bà Hoàng Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh B Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2022/HSST ngày 11 tháng 01 năm 2022 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Chống A S, sinh năm 1985 tại tỉnh Đ Nai; thƣờng trú: Khu 4, ấp Tân H, xã B, huyện Tr, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: H; giới tính: N; tôn giáo: Không; con ông Chống A L, sinh năm 1955 và bà Tsần Lỷ C, sinh năm 1957; bị cáo có 06 anh, chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1995); bị cáo có vợ tên Chắng Sy M, sinh năm 1990; bị cáo có 01 con ruột, sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30 tháng 10 năm 2021. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Quang B, sinh năm 1998; thƣờng trú: 3/12 khu phố Th, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B Dƣơng; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1/ Ông Hồ Minh C; vắng mặt.
2/ Ông Nguyễn Đặng Minh Q; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồ Minh C, Nguyễn Đặng Minh Q, Nguyễn Văn N, Phạm Ngọc Đ, Chống A S có mối quan hệ bạn bè, cùng sinh sống trên địa bàn thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng.
Vào khoảng tháng 8/2015 Hồ Minh C có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị L. Đến đầu tháng 9/2016 thì cả hai chia tay, sau khi chia tay chị Lệ có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Quang B. Do còn muốn hàn gắn tình cảm với chị L, nên khoảng 20 giờ ngày 14/9/2016, C điều khiển xe máy đến nhà chị L tại tổ 1, khu phố Ch, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng tìm gặp chị L để nói chuyện nhƣng chị L không có nhà, C dựng xe đứng trƣớc nhà chị L để chờ. Đến khoảng 21 giờ 30 cùng ngày, C nhìn thấy anh Nguyễn Quang B điều khiển xe máy chở chị Lệ về đến trƣớc cổng nhà, thấy vậy C đi đến nắm tay chị L kéo qua con đƣờng hẻm bên hông nhà để nói chuyện. Thấy C kéo tay chị L nên anh B chạy theo hỏi “Mày làm gì vậy thằng kia? Mày làm gì có quyền kéo l đến nói chuyện” C trả lời “Tao nói chuyện không liên quan gì đến mày” lúc này C và B nói qua lại với nhau dẫn đến hai bên lao vào đánh nhau bằng tay không. Chị L và ngƣời đi đƣờng can ngăn. B lên xe bỏ đi , C nói chuyện với chị Lệ thêm 30 phút sau thì về. Khoảng 23 giờ cùng ngày, C gọi điện nói cho Phạm Ngọc Đ biết sự việc vừa bị anh B đánh sƣng mặt, do đã khuya nên Đ khuyên C về ngủ.
Đến khoảng 08 giờ ngày 15/9/20216, Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode biển số 61D1-609.54 đến gặp C tại quán “Hồ Nguyên Quán”, địa chỉ Tổ 17 khu phố Tân Long, phƣờng Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng. Tại đây C kể toàn bộ nội dung sự việc dẫn đến việc đánh nhau với B cho anh C nghe. Sau đó, C lên mạng xã hội Facebook nhắn tin yêu cầu anh B xin lỗi nhƣng B không Đ ý mà cho số điện thoại cá nhân để C gọi nói chuyện. C gọi điện thoại nói chuyện với anh B thì cả hai thách thức, xúc phạm nhau nên B hẹn C đến trƣa cùng ngày xuống khu dân cƣ Bicosi để giải quyết mâu thuẫn. Điện thoại cho B xong, C nói lại cho Đ biết, sau đó Đ điều khiển xe máy biển số 61D-609.54 đi về nhà.
Đến 11 giờ cùng ngày, C gọi điện rủ Phạm Ngọc Đ, Nguyễn Đặng Minh Q đến phòng trọ của Chống A S tại địa chỉ: 15/18 khu phố Thắng Lợi 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An để đi đánh B. C điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 59D1-196.88 đến phòng trọ của Nguyễn Văn N tại khu phố Thống Nh, phƣờng D và nói N đi xuống khu dân cƣ Bicosi đánh nhau với anh B. C điều khiển chở N đến tiệm vật liệu xây dựng không rõ địa chỉ gần Bàu Sáu Cuộn thuộc khu phố Nhị Đ 1, phƣờng Dĩ An mua một cây búa đẽo dài khoảng 32cm với giá 15.000 Đ rồi chở N đến phòng trọ của Chống A S. Tại phòng trọ của Chống A S gồm có C, Q, N, Đ, S, tên Tý cùng hai đối tƣợng không rõ tên, nhân thân, lai lịch (bạn của S). C kể lại nội dung sự việc bị B đánh vào đêm 14/9/2016 và rủ tất cả đem theo hung khí xuống khu dân cƣ Bicosi đánh anh B để dằn mặt. Đ thời, C mƣợn thêm 01 cây dao bằng kim loại dài khoảng 50cm, bản rộng 05cm của S, Q chuẩn bị sẵn 01 cây dao tự chế bằng kim loại (dạng cây đao) dài khoảng 60cm, bản rộng khoảng 07cm. Sau đó, N điều khiển xe máy biển số 59D1-196.88 chở C, S điều khiển xe máy biển số 61D1-609.54 chở Đ, tên Tý điều khiển xe máy kiểu dáng sirius (không rõ biển số) chở Q, hai đối tƣợng bạn của S đi xe máy kiểu dáng Wave không rõ biển số. Trên đƣờng đi C gọi điện rủ thêm các đối tƣợng L, H (đều không rõ nhân thân, lai lịch) đến hỗ trợ xuống khu dân cƣ Bicosi tìm anh B.
Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày thì nhóm của C thấy anh B và anh Đỗ Thành T đứng tại điểm quán nƣớc Mía thuộc tổ 14, khu phố T, phƣờng Tân B, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Thấy anh B thì tất cả dừng xe, C cầm cây dao tự chế mƣợn của S, Q cầm cây mã tấu của Q mang theo và N cầm cây búa xuống xe đuổi đánh B. Còn Đ, S và các đối tƣợng còn lại đứng bên ngoài giữ xe và chở Đ bọn tẩu thoát. Khi nhìn thấy C, Q và N cầm hung khí xông vào thì anh Tâm bỏ chạy thoát ra sau căn kiot của anh Nguyễn Văn Đ, còn anh B bỏ chạy vào bên trong kiot của anh Đ nhặt 01 cây lau nhà bằng nhôm để đánh trả lại. C chạy vào trƣớc và cầm cây dao bằng tay phải chém một nhát trúng vào cẳng tay phải của anh B, N cầm búa đẽo bằng tay phải chém anh B trúng một nhát vào ngón trỏ trái và một nhát trúng vào phần đầu. Tiếp đó C cầm dao tự chế tiếp tục chém trúng anh B một nhát vào cẳng tay phải, một nhát trúng vào đầu gây thƣơng tích. Thấy anh B bị ngã qụy thì tất cả lên xe tẩu thoát. Trên đƣờng đi Q đƣa cho C giữ cây dao tự chế, C điều khiển xe máy biển số 59D1-169.88 chở N đến đƣờng ray xe lửa cổng 15 thuộc phƣờng Dĩ An vứt 02 cây dao tự chế (không thu hồi đƣợc). Riêng cây búa, sau khi chém anh B, N vứt bỏ lại kiot.
* Bản kết luận giám định về thƣơng tích số 0864/GĐPY/2016 ngày 05/10/2016 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đ Nai đối với bị hại Nguyễn Quang B nhƣ sau:
* Căn cứ vào Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích của Thông tƣ số: 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ trƣởng Bộ y tế, dấu hiệu chính qua giám định:
- Tổn thƣơng mẻ xƣơng cả cổ tay phải, đứt, gân, duỗi cổ tay trụ phải, hiện hạn chế vận động cổ tay phải mức độ nhẹ (áp dụng Chƣơng 8, mục III, Điều 5.1), tỷ lệ 05%.
- Tổn thƣơng đứt gân duỗi ngón III, IV tay phải gân hạn chế vận động ngón III, IV mức độ nhẹ (áp dụng chƣơng 8, mục III, Điều 5.3), tỷ lệ 01%.
- Tổn thƣơng mẻ xƣơng mẻ xƣơng trụ phải (áp dụng Chƣơng 8, mục I, Điều 8.4), tỷ lệ 01%.
- 02 vết thƣơng vùng đầu kích thƣớc 09x0,3cm mỗi vết, 02 vết thƣơng cẳng tay phải kích thƣớc 03x0,2cm và 06x0,2cm, vết thƣơng cổ tay phải kích thƣớc 7,5x0,2cm, vết thƣơng ngón II tay trái kích thƣớc 04x0,2cm (áp dụng Chƣơng 9, mục II, Điều 2), tỷ lệ 06%.
* Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể (Áp dụng theo phƣơng pháp cộng lùi) do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định là 12%.
* Vật gây thƣơng tích: Vật sắc.
Ngày 10/6/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh B Dƣơng khởi tố bị can đối với Hồ Minh C, Nguyễn Đặng Minh Q, Nguyễn Văn N và Phạm Ngọc Đ tội Cố ý gây thƣơng tích.
Ngày 17/7/2017 Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh B Dƣơng xét xử đối với Hồ Minh C, Nguyễn Đặng Minh Q, Nguyễn Văn N và Phạm Ngọc Đ tội Cố ý gây thƣơng tích tại Bản án hình sự sơ thẩm số 172/2017/HSST.
Ngày 10/6/2016 Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh B Dƣơng khởi tố đối với Chống A S và ra quyết định truy nã về tội Cố ý gây thƣơng tích.
Ngày 30/10/2021 Chống A S bị bắt theo quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh B Dƣơng và bị tạm giam về tội Cố ý gây thƣơng tích cho đến nay.
Đối với tên T, H, L và hai ngƣời bạn của Chống A S (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã đƣợc xử lý tại Bản án số 172/2017/HSST ngày 17/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh B Dƣơng, bị hại không yêu cầu bồi thƣờng nên không đặt ra xem xét.
Quá trình tố tụng bị cáo có đơn xin vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Chống A S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì tình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp. Bị hại không có yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại, đƣợc tòa án triệu tập nhƣng vắng mặt. Căn cứ Điều 290 và Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội Đ xét xử chấp nhận và xét xử vắng mặt bị cáo, bị hại.
Căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Căn cứ lời khai của bị cáo, biên bản bắt ngƣời đang bị truy nã; kết luận giám định về thƣơng tích số 0864/GĐPY/2016 ngày 05/10/2016 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ Nai và những chứng cứ, tài liệu thu thập đƣợc trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 15/9/2016, tại ki ốt của anh Nguyễn Văn Đ thuộc tổ 14, khu phố T, phƣờng Tân B, thành phố D, tỉnh B Dƣơng bị cáo Chống A S cùng Đ phạm đã thực hiện hành vi dùng dao tự chế và búa là hung khí nguy hiểm chém nhiều nhát vào ngƣời anh Nguyễn Quang B gây thƣơng tích ở vùng đầu, cổ tay, ngón tay, xƣơng trụ. Theo kết luận giám định về thƣơng tích số 0864/GĐPY/2016 ngày 05/10/2016 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ Nai thì tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định là 12%. Bị cáo Chống A S đã giúp sức tích cực cho các Đ phạm khác thực hiện hành vi phạm tội gây thƣơng tích cho bị hại là nguy hiểm cho xã hội. Chỉ vì chút mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo S cùng Đ phạm đã dùng dao, búa là “hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) gây thƣơng tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể tại thời điểm giám định là 12% đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của bị cáo thực hiện trƣớc ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực. Tuy nhiên, căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QQH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về áp dụng nguyên tắc có lợi cho ngƣời phạm tội thì khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm còn khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm nên cần xem xét áp dụng khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử bị cáo. Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 12/01/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ. Sau khi thực hiện hành vi phạm tôi bị cáo đã bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã ngày 30/10/2021. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Cha của bị cáo là ông Chống A L đƣợc Nhà nƣớc tặng bằng khen đã góp C, góp sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc. Do đó, bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động tự do, chƣa có tiền án tiền sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ. Vì vậy, Hội Đ xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Không có.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã đƣợc xử lý tại Bản án số 172/2017/HSST ngày 17/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh B Dƣơng, bị hại không yêu cầu bồi thƣờng nên Hội Đ xét xử không xem xét.
Xét mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là cao so với mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nên Hội Đ xét xử quyết định xử phạt bị cáo thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát.
Đối với tên T, H, L và hai ngƣời bạn của Chống A S (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ xử lý sau là phù hợp.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Chống A S phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Chống A S 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 10 năm 2021.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Chống A S phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) Đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Dĩ An (1); - C an Tp. Dĩ An (1); - Chi cục THADS Tp.Dĩ An (1); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (1); - TAND tỉnh BD (1); - UBND xã, phƣờng (1); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (1); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (1); - Bị cáo (1); - Ngƣời tham gia tố tụng (2); - Sở tƣ pháp tỉnh B Dƣơng (1); - Lƣu: VT, HS (2). | TM. HỘI Đ XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Vân |