- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M1 phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn c khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết…
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BGI TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HS-ST Ngày 21/4/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BGI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Vượng - Giáo viên nghỉ hưu.
2. Ông Đào Mạnh Tiến - Cán bộ nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm cÔng Kh1 i vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn M1 , sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố TN , phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: Số nhà 23/219 đường ChX , phường LL , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 05/12; Bố: Nguyễn Văn C1 , sinh năm 1958 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961; Gia đình c 03 anh em, bị cáo là th ba; Vợ, con: Chưa; Tiền sự: Không.
- Tiền án:
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 189 ngày 29/11/2019, Tòa án nhân dân thành phố BGi xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù (tài sản trộm cắp trị giá 1.600.000 đồng).
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 165 ngày 28/10/2020 Tòa án nhân dân thành phố BGi xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản; chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2021 (M1 bị truy tố, xét xử về 2 hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản trộm cắp của mỗi vụ là 1.000.000 đồng).
- Nhân thân:
+ Quyết định số 11 ngày 24/04/2019 Công an phường NgQ , thành phố BGi xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
+ Quyết định số 44 ngày 13/12/2017 Tòa án nhân dân thành phố BGi quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm, chấp hành xong ngày 19/12/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2022. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, (C mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
1. Anh Phạm Khả Thành Kh1 , sinh năm 1970, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 02, ngõ 184, đường AL , phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
2. Bà Hoàng Thị H1 , sinh năm 1971, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 49, đường NghL , phường LL , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
3. Bà Ngô Thị T1 , sinh năm 1968, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 13, ngách 11, ngõ 134 đường LL , phường LL , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Cháu Trần Quang Đ1 , sinh ngày 12/05/2005, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn ĐQ , xã ĐS , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Quang Đ1 : Bà Khổng Thị B1 , sinh năm 1976, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn ĐQ , xã ĐS , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
2. Bà Nguyễn Thị T1 , sinh năm 1961, (C mặt).
Địa chỉ: Số nhà 23, ngõ 219 đường ChX , phường LL , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị Ng1 , sinh năm 1972, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 28, ngách 01, ngõ 63 đường NgKhNh , phường TrNgH , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
2. Chị Nguyễn Thị Tuyết M2 , sinh năm 1982, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 46, đường NghL , phường LL , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:
Nguyễn Văn M1 , sinh năm 1986 trú tại số nhà 23, ngõ 219, đường ChX , phường LL , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang đã c tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 06/01/2022, M1 đã thực hiện 03 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thành phố BGi , cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Buổi chiều ngày 15/12/2021, M1 nảy sinh ý định đi trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền chi tiêu. M1 đi bộ đến khu vực quầy sửa chữa khóa trên đường LThT, phường TrPh , thành phố BGi mục đích tìm chiếc chìa khóa mô tô để làm công cụ trộm cắp. M1 khai nhặt được 01 chiếc chìa khóa xe mô tô đã cũ. Sau đ , M1 đi bộ vào trong ngõ 184, đường AL , phường TrPh , thành phố BGi thì phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu TMPRESSA, mầu sơn đen, biển kiểm soát 98F9-0660. Chiếc xe này là của ông Phạm Khả Thành Kh1 , sinh năm 1970, trú tại số nhà 02, ngõ 184, đường AL , phường TrPh , thành phố BGi dựng trước cửa nhà. Quan sát xung quanh thấy không c người trông coi, M1 tiến lại gần chiếc xe mô tô, dùng chiếc chìa khóa vừa nhặt được mở được kh a điện của xe. M1 ngồi lên xe nổ máy rồi đi đến khu vực vòng xuyến thuộc Tổ 02, phường MĐ, thành phố BGi thì dừng lại và đỗ xe trên vỉa hè. M1 khai tại đây thì M1 gặp một người đàn ông không quen biết đi ngang qua. M1 đặt vấn đề bán xe với giá 1.000.000 đồng thì người đàn ông này đồng ý mua và trả cho M1 1.000.000 đồng. M1 sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.
Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 24/02/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BGi kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu TMPRESSA, mầu sơn đen, c gắn một gương chiếu hậu bên trái và một lồng xe, mang biển kiểm soát 98F9-0660, mua năm 2001 đã qua sử dụng, có trị giá ngày 15/01/2022 là 2.400.000 đồng.
Về thu giữ vật ch ng và trách nhiệm dân sự: Theo M1 đã bán chiếc xe mô tô cho người không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Ông Kh1 yêu cầu M1 bồi thường 2.400.000 đồng.
Vụ thứ hai: Buổi sáng ngày 02/01/2022, M1 đi bộ từ nhà qua các tuyến đường khu vực thành phố BGi mục đích để trộm cắp tài sản. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, M1 phát hiện thấy ở trước cửa số nhà 49, đường NghL , phường LL , thành phố BGi có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu XIONGSHI mầu sơn xanh, biển kiểm soát 98B1-008.47, trên xe cắm sẵn chìa kh a điện. Chiếc xe này là của chị Hoàng Thị H1 , sinh năm 1971 dựng ở trước cửa nhà. Quan sát không thấy có ai trông coi, M1 tiến lại gần chiếc xe, ngồi lên xe và mở được kh a điện rồi nổ máy đi theo hướng ra đường LL . Lúc này, chị H1 phát hiện M1 trộm cắp xe mô tô nên đuổi theo nhưng không đuổi kịp. M1 khai đi lên đường cao tốc Hà Nội - Lạng Sơn hướng đi thành phố Hà Nội đến đoạn cầu Xương Giang thì gặp 02 người đàn ông đi trên một chiếc ô tô tải mầu trắng không rõ biển kiểm soát c đề biển thu mua xe máy cũ. M1 đã bán chiếc xe mô tô cho 02 người đàn ông này được số tiền 1.000.000 đồng và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 12/01/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BGi kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu XIONGSHI, mầu sơn xanh, c gương chiếu hậu bên trái, biển kiểm soát 98B1-008.47 đăng ký lần đầu ngày 15/01/2003, đã qua sử dụng có trị giá ngày 02/01/2022 là 1.700.000 đồng.
Ngày 07/01/2022. Cơ quan điều tra đã cho chị H1 nhận dạng ảnh của M1. Kết quả chị H1 nhận ra M1 là người đã trộm cắp tài sản của chị H1 ngày 02/01/2022.
Về thu giữ vật ch ng và trách nhiệm dân sự: Theo M1 đã bán chiếc xe mô tô cho người không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Chị H1 yêu cầu M1 bồi thường 1.700.000 đồng.
Vụ thứ ba: Buổi sáng ngày 06/01/2022, Mạnh đi bộ trên các tuyến đường thuộc phường LL , thành phố BGi mục đích để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, M1 phát hiện thấy trước cửa số nhà 13, ngách 11, ngõ 134 đường LL , phường LL , thành phố BGi có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu CAMELIA, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98F7 - 3689, xe c 02 gương chiếu hậu và 01 giá để hàng bằng kim loại phía sau. Chiếc xe này là của bà Ngô Thị T1 , sinh năm 1968 dựng ở trước cửa nhà. Quan sát thấy không c người trông coi, M1 tiến lại gần thì nhìn thấy chiếc xe đang ở chế độ mở khóa (do ổ khóa bị hỏng). M1 quay đầu xe hướng vào trong ngõ 134 rồi nổ máy đi xe đến cửa hàng thu mua phế liệu tại khu vực Cống Bún, xã ĐS , thành phố BGi để bán. Tại đây, M1 gặp anh Trần Quang Đ1 , sinh năm 2005 trú tại thôn ĐQ , xã ĐS , thành phố BGi . M1 gạ bán chiếc xe trên cho anh Đ1 và nói là xe của M1 nhưng đã bị mất giấy tờ, do cần tiền nên muốn bán. Anh Đ1 tin tưởng nên đã mua chiếc xe trên với giá 800.000 đồng. M1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.
Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 12/01/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BGi kết luận:
- 01 xe máy nhãn hiệu CAMELIA, mầu sơn nâu, c 02 gương chiếu hậu, có giá đỡ phía sau, biển kiểm soát 98B1-3689 mua năm 2004, đã qua sử dụng có trị giá ngày 06/01/2022 là 1.000.000 đồng.
- 01 giá đỡ hàng của xe máy làm bằng kim loại sắt mua năm 2015, đã qua sử dụng, có trị giá ngày 06/01/2022 là 30.000 đồng.
Ngày 07/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố BGi đã bắt giữ Nguyễn Văn M1 và tạm giữ 01 mũ lưỡi trai mầu đen trắng, mặt trước mũ c chữ Adidas; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel mầu đen.
Bà Nguyễn Thị T1 (là mẹ bị cáo M1) giao nộp 01 áo phao mầu tím than, mặt trong cổ áo có dòng chữ IMPERIAL – HYBRID CASUAL; 01 áo khoác mầu đen xám, mặt trong phía sau cổ áo có dòng chữ No Myss; 01 mũ lưỡi trai mầu đen xám mặt trong viền mũ bên trái c dòng chữ ONE SIZE FITS MOST; 01 đôi giầy bằng da mầu đen xung quanh có viền chỉ vàng. Theo M1 khai đã sử dụng trang phục này đi trộm cắp trong các ngày 02/01/2022 và ngày 06/01/2022.
Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Văn M1 tự xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra tại các địa điểm mà Mạnh trộm cắp. Kết quả, M1 đã xác định đúng vị trí và thực hiện lại hành vi trộm cắp 03 chiếc xe mô tô như đã khai tại Cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho anh Đ1 nhận dạng ảnh của M1. Kết quả anh Đ1 nhận ra M1 là người đã bán chiếc xe mô tô trên ngày 06/01/2022. Anh Đ1 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F7 - 3689.
Về xử lý vật ch ng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã lại bà T1 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98F7 – 3689. Đối với 01 chiếc giá để hàng bằng kim loại do M1 khai trên đường đi bán xe đã bị rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Bà T1 không yêu cầu bồi thường.
Đối với Trần Quang Đ1 mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98F7 – 3689 nhưng không biết là tài sản do M1 phạm tội mà c nên Cơ quan điều tra không xử lý. Anh Đ1 yêu cầu M1 bồi thường 800.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn M1 đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 24 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định về số lượng tài sản đã trộm cắp theo Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi truy tố là đúng người, đúng tội, không bị oan.
Bà Nguyễn Thị T1 là người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày tại phiên tòa: Bà là mẹ của bị cáo. Khi bị cáo bị bắt thì bà c giao nộp cho cơ quan công an một số tài sản của bị cáo. Bà không biết gì về hành vi phạm tội của bị cáo.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan c mặt tại phiên tòa không c ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi sau khi phân tích tính chất, m c độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M1 từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 07/01/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn M1 phải bồi thường cho anh Phạm Khả Thành Kh1 số tiền 2.400.000 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn M1 phải bồi thường cho chị Hoàng Thị H1 số tiền 1.700.000 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn M1 phải bồi thường cho cháu Trần Quang Đ1 do chị Khổng Thị B1 là đại diện số tiền 800.000 đồng.
3. Về vật ch ng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 mũ lưỡi trai màu đen trắng, mặt trước mũ c chữ Adidas;
+ 01 áo phao mầu tím than, mặt trong cổ áo c dòng chữ IMPERIAL-HYBRID CASUAL;
+ 01 áo khoác màu đen xám, mặt trong phía sau cổ áo c dòng chữ No Myss;
+ 01 mũ lưỡi trai màu đen xám mặt trong viền mũ bên trái c dòng chữ ONE SIZE FITS MOST;
+ 01 đôi giày bằng da màu đen xung quanh c viền chỉ vàng.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
- Án phí hình sự sơ thẩm:
+ Bị cáo Nguyễn Văn M1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bị cáo Nguyễn Văn M1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan c mặt tại phiên tòa đều không c ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Lời n i sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mìn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố BGi , Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự c mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm ch ng được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã c đầy đủ lời khai của những người này nên căn c vào các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác c trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Văn M1 đã c tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được x a án tích. Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 06/01/2022, M1 đã thực hiện 03 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang, cụ thể:
- Ngày 15/12/2021, M1 trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98F9-0660 trị giá 2.400.000 đồng của ông Phạm Khả Thành Kh1 trú tại số nhà 02, ngõ 184, đường AL , phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
- Ngày 02/01/2022, M1 trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B1-008.47 trị giá 1.700.000 đồng của chị Hoàng Thị H1 trú tại số nhà 49 đường NghL , phường LL , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
- Ngày 06/01/2022, M1 trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B1-3689 trị giá 1.000.000 đồng (trên xe c 01 giá đỡ hàng bằng kim loại trị giá 30.000 đồng) của bà Ngô Thị T1 trú tại ngách 11, ngõ 134 đường LL , phường LL , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
Tổng giá trị tài sản do bị cáo M1 trộm cắp là 5.130.000 đồng.
Bị cáo là người c đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã c đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đ , Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi truy tố bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là c căn c , đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người c nhân thân xấu.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo c thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Năm 2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến nay chưa được x a án tích.
Trong thời gian từ 15/12/2021 đến ngày 06/01/2022, bị cáo lại tiếp tục thực hiện 03 hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã nhiều lần bị xử lý bằng pháp luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đ làm bài học để trở thành công dân tốt c ích cho gia đình, xã hội. Do vậy cần phải c một m c án tương x ng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để c tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không c nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
- Đối với yêu cầu của anh Phạm Khả Thành Kh1 , chị Hoàng Thị H1 , cháu Trần Quang Đ1 do chị Khổng Thị B1 là đại diện Hội đồng xét xử thấy: Theo kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 24/02/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BGi kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu TMPRESSA, mầu sơn đen, c gắn một gương chiếu hậu bên trái và một lồng xe, mang biển kiểm soát 98F9-0660, mua năm 2001 đã qua sử dụng, c trị giá ngày 15/01/2022 là 2.400.000 đồng; Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 12/01/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BGi kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu XIONGSHI, mầu sơn xanh, c gương chiếu hậu bên trái, biển kiểm soát 98B1-008.47 đăng ký lần đầu ngày 15/01/2003, đã qua sử dụng c trị giá ngày 02/01/2022 là 1.700.000 đồng. Nên yêu cầu của anh Kh1, chị H1 là c căn c chấp nhận.
- Đối với yêu cầu của cháu Trần Quang Đ1 do chị Khổng Thị B1 là đại diện Hội đồng xét xử thấy: Khi giao dịch mua bán xe thì cháu Trần Quang Đ1 không biết chiếc xe là tài sản do phạm tội mà c . Bị cáo Nguyễn Văn M1 đã bán cho cháu Đ1 chiếc xe với giá 800.000 đồng. Nay cháu Đ1 do chị Khổng Thị B1 là đại diện yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 800.000 đồng là c căn c chấp nhận.
Về vật ch ng của vụ án:
- Đối với:
+ 01 mũ lưỡi trai màu đen trắng, mặt trước mũ c chữ Adidas;
+ 01 áo phao mầu tím than, mặt trong cổ áo c dòng chữ IMPERIAL-HYBRID CASUAL;
+ 01 áo khoác màu đen xám, mặt trong phía sau cổ áo c dòng chữ No Myss;
+ 01 mũ lưỡi trai màu đen xám mặt trong viền mũ bên trái c dòng chữ ONE SIZE FITS MOST;
+ 01 đôi giày bằng da màu đen xung quanh c viền chỉ vàng.
Là vật ch ng không c giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Những vấn đề khác có liên quan:
Bà Nguyễn Thị T1 (là mẹ bị cáo M1) giao nộp 01 áo phao mầu tím than, mặt trong cổ áo c dòng chữ IMPERIAL – HYBRID CASUAL; 01 áo khoác mầu đen xám, mặt trong phía sau cổ áo c dòng chữ No Myss; 01 mũ lưỡi trai mầu đen xám mặt trong viền mũ bên trái c dòng chữ ONE SIZE FITS MOST; 01 đôi giầy bằng da mầu đen xung quanh c viền chỉ vàng. Theo Mạnh khai đã sử dụng trang phục này đi trộm cắp trong các ngày 02/01/2022 và ngày 06/01/2022.
Đối với Trần Quang Đ1 mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98F7 – 3689 nhưng không biết là tài sản do M1 phạm tội mà c nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn M1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn M1 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử:
1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M1 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 07/01/2022.
1.2. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn M1 phải bồi thường cho anh Phạm Khả Thành Kh1 số tiền 2.400.000 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn M1 phải bồi thường cho chị Hoàng Thị H1 số tiền 1.700.000 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn M1 phải bồi thường cho cháu Trần Quang Đ1 do chị Khổng Thị B1 là đại diện số tiền 800.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày c đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về vật ch ng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 mũ lưỡi trai màu đen trắng, mặt trước mũ c chữ Adidas;
+ 01 áo phao mầu tím than, mặt trong cổ áo c dòng chữ IMPERIAL-HYBRID CASUAL;
+ 01 áo khoác màu đen xám, mặt trong phía sau cổ áo c dòng chữ No Myss;
+ 01 mũ lưỡi trai màu đen xám mặt trong viền mũ bên trái c dòng chữ ONE SIZE FITS MOST;
+ 01 đôi giày bằng da màu đen xung quanh c viền chỉ vàng.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn M1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn M1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
6. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
o
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang - VKSND thành phố BGi ; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THADS TP Bắc Giang; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố BGi ; - Cơ quan THAHS Công an thành phố BGi ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - UBND phường TrPh , Tp Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; - UBND phường LL , Tp Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; - Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dƣơng Đình Hƣng |