vanban.org

Bản án 47/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 20/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Đàm N pha ̣m tô ̣i “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo: Lý Đàm N - 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian thụ hình được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, được trừ đi thời gian đã tạm giam từ ngày 14/9/2022 đến ngày 01/10/2022 . Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 - Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Cố ý gây thương tích Lý Đàm N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Đàm N pha ̣m tô ̣i “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA AN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/HS-ST
Ngày: 20 /12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Lan Phương

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Bằng

2. Ông Nguyễn Ngọc Huỳnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Biển - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2022/HSST ngày 28 tháng 11năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/202/ QĐXXST-HS ngày 09/12/2022 đối với bị cáo:

Lý Đàm N (Tên gọi khác : Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 03 tháng 3 năm 1959 tại xã Đ, huyện H, Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm H, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Con ông: Lý Đàm C, đã chết; Con bà: Bế Thị N, đã chết; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ tư. Vợ: Nông Thị T, sinh năm 1958; Con: có 03 (ba) con, con lớn sinh năm 1984; con nhỏ sinh năm 1988; Tiền án: Ngày 27/12/2019, Toà án nhân dân huyện Hoà An xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản.Tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bế Thị N, sinh năm 1962

Nơi cư trú: xóm H, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Hoàng Thị C – Sinh năm 1984

Địa chỉ: xóm Héc C, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 20/5/2022, trong lúc bà Bế Thị N, đang chăn trâu tại ruộng của Lý Đàm N (khu ruộng Nà Vài thuộc xóm H, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng) thì N đi lấy củi về đi ngang qua. Do có mâu thuẫn từ trước nên N không muốn bà N chăn trâu tại khu ruộng của mình nên đã chửi, đuổi bà N. Hai bên lời qua tiếng lại, N bực tức liền cầm đất ở ruộng thuốc lá ném vào con trâu để đuổi ra khỏi ruộng của mình. Khi ném đất đuổi trâu có ném trúng cả vào chân và người bà N. Lúc này bà N bước theo mép bên dưới bờ ruộng còn N đứng bên trên bờ ruộng tiếp tục tìm đất để ném bà N thì thấy ở bờ ruộng có 01 hòn đá (không rõ hình, có nhiều cạnh sắc, màu vàng nâu, bám dính bùn đất) N liền cầm lấy ném về phía bà N đang đứng, hòn đá trúng vào vùng trán trên mắt phải của bà N. Sau đó, N đi thẳng về nhà còn bà N do máu chảy nhiều và choáng váng nên được bà Hoàng Thị C (trú tại xóm H, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng) đang lấy cỏ gần đó đưa về nhà và đến điều trị tại Trung tâm y tế huyện Hòa An.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 069/22/TgT ngày 29/6/2022 của Trung tâm pháp y, Sở y tế Cao Bằng đối với bà Bế Thị N, sinh năm 1962 đã kết luận: Vết sẹo phần mềm vùng trán mặt bên phải, kích thước nhỏ: 03%; Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 03% (Ba phần trăm).

Hành vi trên của bị cáo Lý Đàm N đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An, Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Bản cáo trạng số: 51/CT-VKSHA ngày 26/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An đã truy tố bị cáo Lý Đàm N về Tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo Lý Đàm N thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, bị cáo khai báo không thành khẩn, không có thiện chí và cũng không có sự ăn năn về hành vi đã gây thương tích cho người bị hại N; Thậm chí bị cáo còn mong muốn cho hậu quả xảy đối với bị hại nặng hơn thì mới thỏa đáng.

Bị hại Bế Thị N, xác nhận về mâu thuẫn giữa hai bên gia đình là do bị cáo N cho rằng gia đình bà được chia nhiều phần đất đai của cha ông để lại, nên gây ấm ức, sinh ra cãi chửi nhau trong dòng họ. Việc bị cáo gây thương tích cho bị hại là cố ý; Về phần bồi thường thiệt hại, qua nghe phân tích tích của Hội đồng xét xử, bị hại không thể cung cấp các hóa đơn đi khám lại cũng như hóa đơn thuê xe taixi, nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: các điều 584, 585, 586, 590 - Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy:_

- 01 (một) hòn đá không rõ hình có nhiều cạnh sắc màu vàng nâu, bám dính bùn đất có màu nâu, có chiều dài 9,5cm, rộng 06cm, dày 03cm.

- 01 (một) hòn đá màu vàng nâu, bám dính bùn đất màu nâu đenkhông rõ hình có nhiều cạnh sắc, có chiều dài 9,5cm, rộng 09cm, dày 04cm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo, người bị hại không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên về tội danh cũng như mức hình phạt;

Khi được nói lời sau cùng bị cáo không có ý kiến gì đề nghị Hội đồng xét xử .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo đã thực hiện, tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi Cố ý gây thương tích của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, qua đó xác định do có mâu thuẫn từ trước nên khi thấy bị hại đang chăn trâu tại ruộng của mình bị cáo đã chửi, đuổi bị hại, hai bên đã lời qua tiếng lại nên bị cáo đã bực tức và dùng đá ném trúng vùng trán của bị hại dẫn đến bị hại thương tích với tỉ lệ là 3% (Ba phần trăm).

Hành vi của bị cáo Lý Đàm N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo đã dùng đá ném gây thương tích cho người bị hại, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bỏ mặc hậu quả xảy ra đối với bị hại, và còn mong muốn hậu quả xảy ra nặng hơn thì mới thỏa mãn ý định của bị cáo. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo đã dùng đá ném vào bị hại, thương tích của bị hại do bị cáo Lý Đàm N gây ra. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Ngày 27/12/2019, Toà án nhân dân huyện Hoà An xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản. chưa được xóa án tích; Do vây, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lý Đàm Nhí không thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, không có thái độ ăn năn hối cải về hành vi đã gây ra, thậm chí bị cáo còn mong muốn cho hậu quả nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 - Bộ luật dân sự. Thiệt hại về sức khỏe do hành vi của bị cáo đã gây ra cho bà N là 3% và đã phải đi viện điều trị 07 ngày với chi phí là 2.051.000, đ (Hai triệu không trăm năm mươi mốt nghìn đồng). Chi phí người phục vụ trong quá trình điều trị 1 công (200.000, đ/ngày x 7 ngày = 1.400.000,đ). Đây là nghĩa vụ và trách nhiệm bị cáo phải bồi thường cho người bị hại do hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo gây ra.

Ngoài ra bị cáo còn phải bồi về tổn thất về sức khỏe bị xâm hại cho bà N 1 khoản tiền tương ứng với 01 tháng lương cơ bản là 1.490.000,đ00 (một triệu bốn trăm chín trăm chín mươi nghìn nghìn đồng).

Cộng các khoản bị cáo phải bồi thường cho bà Bế Thị N (Nơi cư trú: xóm H, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng) là 4.941.000, đ (bốn triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn đồng)

[ 7] về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47- Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Xử tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) hòn đá không rõ hình có nhiều cạnh sắc màu vàng nâu, bám dính bùn đất có màu nâu, có chiều dài 9,5cm, rộng 06cm, dày 03cm.

- 01 (một) hòn đá màu vàng nâu, bám dính bùn đất màu nâu đenkhông rõ hình có nhiều cạnh sắc, có chiều dài 9,5cm, rộng 09cm, dày 04cm.

Xác nhận số tang vật trên đã được chuyển đến kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/11/2022.

Trong phần tranh luận bị cáo và người bị hại, không có ý kiến gì tranh luận với luận tội cũng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa, về tội danh, hình phạt là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm h khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀

năm 2015.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Đàm N pha ̣m tô ̣i “Cố ý gây thương tích”.

2. Xử phạt bị cáo: Lý Đàm N - 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian thụ hình được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, được trừ đi thời gian đã tạm giam từ ngày 14/9/2022 đến ngày 01/10/2022 .

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 - Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà N (Nơi cư trú: xóm Héc C, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng) là 4.941.000, đ (bốn triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47- Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) hòn đá không rõ hình có nhiều cạnh sắc màu vàng nâu, bám dính bùn đất có màu nâu, có chiều dài 9,5cm, rộng 06cm, dày 03cm.

- 01 (một) hòn đá màu vàng nâu, bám dính bùn đất màu nâu đen không rõ hình có nhiều cạnh sắc, có chiều dài 9,5cm, rộng 09cm, dày 04cm.

Xác nhận số tang vật trên đã được chuyển đến kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/11/2022.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo Lý Đàm N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự và 300.000, đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; Cộng cả hai khoản là 500.000,đ(năm trăm nghìn đồng) sung quỹ nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ