- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 56 của Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HS-ST Ngày: 23/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Vân.
2 .Ông Lê Tuấn Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Mụi – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Thanh N, sinh năm 1989 tại Bến Tre; Trú tại: số C, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 03/12; Con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Đặng Thị Hồng Y (đã chết), Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền sự: Không.
- Tiền án: 04
+ Ngày 23/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt 09 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 40/2016/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù ngày 08/3/2017.
+ Ngày 04/10/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt 10 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 25/2017/HS-ST, bị cáo chưa chấp hành án.
+ Ngày 20/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 23/2017/HS-ST.
+ Ngày 27/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 46/2017/HS-ST. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án số 23/2017/HSST và số 46/2017/HS-ST là 01 năm 09 tháng tù, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 12/3/2019.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Bùi Ngọc Huệ E, sinh năm 1959 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh BếnTre
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 24/11/2021, Lê Thanh N điều khiển xe mô tô biển số 71B1 – 386.28 hiệu TAURUS màu trắng đen (xe của Nhân) đi từ hướng thành phố Bến Tre đến huyện Châu Thành để tìm kiếm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực trụ sở ấp Phước Hòa, xã Phú An Hòa, huyện Châu Thành, N nhìn thấy bên hông trụ sở ấp có 01 buồng chuối xiêm xanh (chuối của trụ sở ấp) do ông Bùi Ngọc Huệ E (Trưởng ấp Phước Hòa) quản lý nhưng không có ai trong coi nên N nảy sinh ý định cắt trộm. Sau đó, N dựng xe mô tô biển số 71B1 – 386.28 trong sân trụ sở ấp, lấy con dao thái lan dài 20cm đem theo sẵn trong cốp xe cắt trộm buồng chuối xiêm xanh, chưa kịp mang buồng chuối đi tiêu thụ thì bị lực lượng công an xã Phú An Hòa phát hiện bắt giữ.
Vật chứng tạm giữ:
Một xe mô tô biển số 71B1-386.28 màu trắng đen hiệu Taurus, số máy 16SB002784, số khung RLCS16S40BY002470 do Lê Thanh N đứng tên sở hữu;
Một con dao thái lan dài 20cm có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng.
Bản kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐG ngày 27/01/2022 của Hội đồng định giá – UBND huyện Châu Thành kết luận: 01 buồng chuối xiêm xanh có trọng lượng 05 ký, chuối loại 1 có giá 35.000 đồng.
Hiện ông Bùi Ngọc Huệ E đã nhận lại buồng chuối và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 37/CT-VKSCT ngày 08/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Lê Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thanh N từ 04 tháng đến 08 tháng tù giam. Do bị cáo Nhân chưa thi hành bản án số 25/2017/HSST, ngày 04/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt 10 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản” nên áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề xuất tổng hợp hình phạt của bản án này vào hình phạt chung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
+ Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 mô tô biển số 71B1-386.28 màu trắng đen hiệu Taurus, số máy 16SB002784, số khung RLCS16S40BY002470.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 con dao thái lan dài 20cm có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận ông Bùi Ngọc Huệ E đã nhận lại buồng chuối và không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng thời nói lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử và đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại về đặc điểm, vị trí tài sản mà bị cáo chiếm đoạt và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 24/11/2021, tại trụ sở ấp Phước Hòa, xã Phú An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Lê Thanh N đã có hành vi lén lút cắt 01 buồng chuối xiêm xanh của trụ sở ấp do ông Bùi Ngọc Huệ E quản lý có giá trị 35.000đồng.
Hành vi của bị cáo là hành vi với lỗi cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Lần phạm tội này mặc dù dưới định lượng nhưng do bị cáo có 04 tiền án chưa được xóa nên đủ cơ sở chứng minh hành vi của Lê Thanh N đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã nảy sinh ý định và lén lút chiếm đoạt 01 buồng chuối xiêm xanh do ông Bùi Ngọc Huệ E quản lý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mọi người không an tâm trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không có tiền sự, nhưng đã có 4 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, bản tính xem thường pháp luật của bị cáo nên cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Đồng thời, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo.
Bị cáo Lê Thanh N trước đây bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt 10 tháng tù giam về “Tội trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HS-ST, ngày 04/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cáo chưa chấp hành án do đó phải tổng hợp hình phạt của bản án trên với hình phạt của lần xét xử này, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận ông Bùi Ngọc Huệ E đã nhận lại buồng chuối và không yêu cầu gì thêm.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 mô tô biển số 71B1-38628 màu trắng, hiệu Taurus, số máy 16SB002784, số khung RLCS16S40BY002470 và giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 242234 đối với xe mô tô biển số 71B1-38628 do Lê Thanh N đứng tên chủ xe, xe này của bị cáo N nhưng N sử dụng xe làm phương tiện đi lại thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu xe và giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.
+ Đối với 01 con dao thái lan dài 20cm có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng là công cụ để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 56 của Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh N phạm “Tội trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Lê Thanh N 04 (Bốn) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 10 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm 25/2017/HSST, ngày 04/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Buộc bị cáo Lê Thanh N chấp hành hình phạt chung là 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
[2] Về Trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận ông Bùi Ngọc Huệ E đã nhận lại buồng chuối và không yêu cầu gì thêm.
[3] Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 mô tô biển số 71B1- 38628 màu trắng, hiệu Taurus, số máy 16SB002784, số khung RLCS16S40BY002470 và giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 242234 đối với xe mô tô biển số 71B1-38628 do Lê Thanh N đứng tên chủ xe.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 con dao thái lan dài 20 cm có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành).
[4] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thanh N chịu án phí 200.000đồng.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND tỉnh Bến Tre; - STP tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Công an huyện; - UBND phường P, TP. Bến Tre; - Bộ phận HS CA huyện; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Chí Cường |