vanban.org

Bản án 47/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 26/10/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/10/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phùng Sùn P 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 25-8-2022.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "174 - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phùng Sùn P 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 25-8-2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/HS-PT
Ngày 26-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mã Văn Quân.

Các Thẩm phán: Bà Nông Biên Hòa.

Ông Hoàng Văn Thụ.

- Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Hoa, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Quỳnh Trang, Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 43/2022/TLPT-HS ngày 05 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Phùng Sùn P do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án sơ thẩm số: 19/2022/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện NB, tỉnh Cao Bằng.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và tên: Phùng Sùn P (tên gọi khác: Phùng Sùn Phúc), sinh ngày 22 tháng 12 năm 1978 tại xã Thành C, huyện NB, tỉnh Cao Bằng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm ĐK, xã Thành C, huyện NB, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: lớp 2/12 phổ thông; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Sành H, sinh năm 1944 và bà Bàn Mùi M, sinh năm 1940; có vợ là Đặng Mùi Sai, sinh năm 1986 và 02 con; tiền án, tiền sự: không có;

Bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Bị hại có kháng cáo:

Triệu Mùi S, sinh năm 1993, nơi cư trú: Xóm ĐK, xã Thành C, huyện NB, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09 tháng 01 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NB, tỉnh Cao Bằng nhận được đơn của bà Đặng Mùi P, sinh năm 1970 (mẹ đẻ của Triệu Mùi S), trú tại Xóm ĐK, xã Thành C, huyện NB, tỉnh Cao Bằng tố giác Phùng Sùn P, sinh năm 1978, cư trú cùng xóm với bà Pham có hành vi chặt phá 03 cuộn ống dẫn nước chung của 06 hộ gia đình tại Xóm ĐK, xã Thành C, huyện NB, trong đó có hộ gia đình chị Triệu Thị Sâu và hộ bà Đặng Mùi P. Nhận được đơn tố giác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NB đã tiến hành xác minh, điều tra làm rõ.

Kết quả điều tra xác định được như sau: Tháng 10 năm 2021, 06 hộ dân ở Xóm ĐK, xã Thành C, huyện NB, tỉnh Cao Bằng gồm: Đặng Mùi P, Triệu Mùi S, Lý Dào V, Triệu Vần P, Triệu Vần P, Triệu Triều V cùng nhau góp tiền mua 21 (hai mươi mốt) cuộn ống nhựa loại HDPE phi 50x4,0m PN 12, tổng chiều dài mỗi cuộn 100 mét để dẫn nước từ suối về nhà phục vụ sinh hoạt. Tuy nhiên, do các hộ nói trên đã đặt đầu đường ống lên bên trên nguồn nước chung của xóm nên các hộ còn lại lấy nước ở phía dưới không đủ nước sinh hoạt dẫn đến mâu thuẫn. Đầu tháng 12-2021, Phùng Sùn P cùng với Phùng Kiềm S, Phùng Kiềm C do bức xúc vì đường ống dẫn nước của 06 hộ dân trên đã chặn lấy hết nước khiến hộ gia đình Phùng Sùn P không đủ nước sinh hoạt và sản xuất miến dong nên cả 03 người đã cùng nhau đến khu vực đặt ống dẫn nước của 06 hộ rồi dùng dao quắm của Phu cùng nhau chặt đứt 18,55 mét ống nước thành 17 đoạn có kích thước dài ngắn khác nhau. Đến ngày 05-12-2021, Phùng Sùn P cùng vợ đang sát bột dong ở nhà thì không thấy nước chảy về nên đã cùng vợ là bà Triệu Mùi S1 đi đến khu vực đầu nguồn thấy mương dẫn nước đầu nguồn có đoạn bị phá, đồng thời gặp bà Đặng Mùi P và chị Triệu Mùi S tại đấy, giữa hai bên đã xảy ra cãi chửi nhau, chị S và bà Pham cho rằng do trước đó Phu đã chặt ống dẫn nước của chị S và bà Pham cùng các hộ gia đình đóng góp mua nên mới phá mương dẫn nước đầu nguồn của P. Do bức xúc nên P đã cầm con dao quắm đem theo từ nhà chặt phá tiếp đoạn ống dẫn nước đầu nguồn còn lại thành 21 đoạn có tổng chiều dài là 269,37 mét và bỏ lại tất cả số ống đã chặt phá tại hiện trường. Ngày 23-12-2021, bà Đặng Mùi P đã đại diện cho 05 hộ còn lại viết đơn tố giác về hành vi của Phùng Sùn P. Tại Cơ quan điều tra, Phùng Sùn P thừa nhận đã 02 lần chặt phá ống nước của 06 hộ dân Xóm ĐK, lần thứ nhất vào đầu tháng 12-2021 và lần thứ hai vào ngày 05-12-2021.

Tại Biên bản nhận dạng, kiểm tra vật chứng ngày 15-02-2022 tại Xóm ĐK xác định 38 đoạn ống nhựa có tổng chiều dài 287,92 mét.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NB, tỉnh Cao Bằng đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện NB định giá và xác định giá trị số ống nước bị phá. Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐ ĐGTS ngày 14-3-2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện NB kết luận:

“Giá trị của 287,92m ống nhựa, loại ống nước HDPE phi 50x4,0m PN 12, màu đen tại thời điểm xảy ra vụ việc vào tháng 12-2021 là 5.182.560 đồng.

Giá trị của 01 mét ống nhựa màu đen, loại ống nước HDPE phi 50x4,0m PN 12 tại thời điểm xảy ra vụ việc vào tháng 12-2021 là 18.000 đồng”.

Tại Bản án sơ thẩm số: 19/2022/HS-ST ngày 25-8-2022 của Toà án nhân dân huyện NB, tỉnh Cao Bằng đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Sùn P (tên gọi khác: Phùng Sùn Phúc) phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phùng Sùn P 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 25-8-2022.

Giao bị cáo Phùng Sùn P cho Ủy ban nhân dân xã Thành C, huyện NB, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Ngoài ra, Bản án còn quyết định xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại.

Ngày 30-8-2022, bị hại Triệu Mùi S kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, không cho hưởng án treo.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị hại Triệu Mùi S vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai: Phùng Sùn P đã 02 lần chặt phá ống dẫn nước do 06 hộ gia đình đóng góp với số ống nước bị chặt phá là 03 cuộn, mỗi cuộn 100 mét. Triệu Thị S đề nghị Hội đồng xét xử tăng hình phạt và không cho Phùng Sùn P được hưởng án treo.

Bị cáo Phùng Sùn P khai: Ngày 05-12-2022, khi Phu đang cùng vợ là Triệu Mùi S1 sát bột dong ở nhà thì không thấy nước chảy về nên đã đến khu vực đầu nguồn kiểm tra thì thấy mương dẫn nước có đoạn bị phá, do bức xúc nên P đã dùng dao chặt phá đường ống dẫn nước của 06 hộ gia đình trong xóm thành nhiều đoạn dài, ngắn khác nhau có tổng chiều dài là 269,37 mét. Trước đó, vào đầu tháng 12-2022, Phu cũng đã cùng Phùng Kiềm S, Phùng Kiềm C chặt phá 18,55 mét ống nước của các gia đình này do các gia đình trên đã đặt đầu ống nước lên phía trên nguồn nước chung của xóm chặn lấy hết nước khiến gia đình P không có đủ nước sinh hoạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện NB, tỉnh Cao Bằng xét xử bị cáo Phùng Sùn P về tội danh, điều luật là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo: Bị cáo Phùng Sùn P có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng là tương xứng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và đúng theo quy định của Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Bị hại kháng cáo tăng nặng hình phạt đối với bị cáo nhưng không xuất trình thêm tình tiết mới về tăng nặng trách nhiệm hình sự nên không có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Triệu Mùi S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 19/2022/HS-ST ngày 25-8-2022 của Tòa án nhân dân huyện NB, tỉnh Cao Bằng.

Bị cáo Phùng Sùn P không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận.

Bị hại Triệu Thị S không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử giữ nguyên mức án theo Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Phùng Sùn P tại phiên toà phúc thẩm hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên toà, có đủ căn cứ kết luận: Tháng 10-2021, 06 hộ dân ở Xóm ĐK, xã Thành C, huyện NB, tỉnh Cao Bằng là Đặng Mùi P, Triệu Mùi S, Lý Dào V, Lý Vần Ph, Lý Phụ D, Triệu Triều V cùng nhau góp tiền mua ống nhựa dẫn nước từ đầu nguồn về phục vụ sinh hoạt. Các hộ dân này đã đặt đầu ống lên đầu nguồn nước phía trên vị trí gia đình Phùng Sùn P đặt đầu ống và chặn lấy hết nước khiến gia đình Phu không đủ nước sinh hoạt dẫn đến mâu thuẫn do tranh chấp nguồn nước. Đầu tháng 12-2021, Phùng Sùn P cùng với Phùng Kiềm S, Phùng Kiềm C dùng dao chặt phá 18,55 mét ống nước của các hộ gia đình trên, đến ngày 05-12-2021 Phùng Sùn P tiếp tục chặt phá 269,37 mét ống dẫn nước. Tổng chiều dài ống nhựa dẫn nước bị chặt phá là 287,92 mét, tổng giá trị tài sản bị hủy hoại theo kết quả định giá là 5.182.560 đồng. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện NB, tỉnh Cao Bằng xử phạt bị cáo Phùng Sùn P 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

Xét kháng cáo của bị hại Triệu Mùi S.

Bị cáo Phùng Sùn P có hành vi hủy hoại 287,92 mét ống nhựa dẫn nước loại HDPE phi 50x4,0m PN 12, có tổng giá trị là 5.182.560 đồng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã mua 02 cuộn ống dẫn nước cùng loại bị phá có tổng chiều dài mỗi cuộn là 100 mét để bồi thường thiệt hại cho các bị hại nhưng không được chấp nhận nên đã tự nguyện nộp số tiền 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NB để thực hiện việc bồi thường cho các bị hại nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo Phùng Sùn P có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và không thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết này nên Tòa án nhân dân huyện NB xử phạt bị cáo Phùng Sùn P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng là đúng quy định của pháp luật. Bị hại Triệu Mùi S kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, không cho bị cáo hưởng án treo, vì cho rằng mức hình phạt này là quá nhẹ, chưa thỏa đáng nhưng không xuất trình được tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mới, cũng như các căn cứ để chứng minh mức hình phạt này chưa phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy, kháng cáo của Triệu Mùi S không có căn cứ chấp nhận

Về án phí: Kháng cáo của bị hại Triệu Mùi S không được Hội đồng xét xử chấp nhận nhưng vụ án không phải được khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Triệu Mùi S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Triệu Mùi S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 19/2022/HS-ST ngày 25-8-2022 của Toà án nhân dân huyện NB, tỉnh Cao Bằng.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phùng Sùn P 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 25-8-2022. Giao bị cáo Phùng Sùn P cho Ủy ban nhân dân xã Thành C, huyện NB, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị hại Triệu Mùi S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ