vanban.org

Bản án 47/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Phan Thụy M. Cho bà Phan Thụy M được ly hôn với ông Trịnh Quang T. Về con chung: Giao cháu Trịnh Phan M, sinh ngày: 17/11/2010 và cháu Trịnh Phan N, sinh ngày: 11/3/2019 cho nguyên đơn bà Phan Thụy M chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA HNST"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14 – 6 – 2022
V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quí

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thu

2. Ông Nguyễn Việt Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Ni – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2022/QĐXX-ST ngày 23 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thụy M, sinh năm: 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Số 10, khu vực 2, phường X, quận S, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở: Số 28/8 Nguyễn Viết Xuân, khu vực 2, phường X, quận S, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Ông Trịnh Quang T, sinh năm: 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 10, khu vực 2, phường X, quận S, thành phố Cần Thơ.

3. Người có quyền và lợi ích được bảo vệ:

Cháu Trịnh Phan M, sinh ngày: 17/11/2010 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 10, khu vực 2, phường X, quận S, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở: Số 28/8, khu vực 2, phường X, quận S, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Phan Thụy M trình bày: Bà với ông Trịnh Quang T tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 25/9/2009 tại Ủy ban nhân dân phường X, quận S, thành phố Cần Thơ theo quy định của pháp luật và có với nhau 02 người con chung tên Trịnh Phan M và Trịnh Phan N. Quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, quan điểm gia đình và các vấn đề khác không đồng thuận dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả; bản thân ông T không quan tâm đến gia đình và có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Gia đình đã nhiều lần hòa giải đoàn tụ nhưng không thành và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên bà với ông T đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nhận thấy không thể duy trì mối quan hệ vợ chồng nên bà khởi kiện và yêu cầu:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Trịnh Quang T;

Về con chung: Yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Trịnh Phan M, sinh ngày: 17/11/2010 và Trịnh Phan N, sinh ngày: 11/3/2019 đến tuổi trưởng thành, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/cháu đến khi đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn ông Trịnh Quang T vắng mặt.

* Người có quyền và lợi ích được bảo vệ cháu Trịnh Phan M trình bày: Sau khi cha mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng sống chung với mẹ và em tại nhà số 28/8 Nguyễn Viết Xuân, khu vực 2, phường X, quận S, thành phố Cần Thơ.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thụy M vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông Trịnh Quang T; yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành nhưng không yêu cầu ông Trịnh Quang T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Trịnh Quang T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; cháu Trịnh Phan M vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu:

Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của pháp luật; xác định đúng và đầy đủ tư cách của người tham gia tố tụng; các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Trịnh Quang T vắng mặt, đã được xác minh địa chỉ và cháu Trịnh Phan M vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự là phù hợp.

Nguyên đơn bà Phan Thụy M với bị đơn ông Trịnh Quang T có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và có với nhau 02 người con chung. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn nên bà Yên khởi kiện được Tòa án thụ lý giải quyết theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự xét thấy giữa nguyên đơn với bị đơn đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn; bị đơn vắng mặt nên không có khả năng hòa giải đoàn tụ thành. Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu ly hôn cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ.

Về con chung: Nguyên đơn có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành là phù hợp với nguyện vọng của cháu Trịnh Phan M, còn cháu Trịnh Phan N mới hơn 36 tháng tuổi nên giao cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp. Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung đối với bị đơn ông Trịnh Quang T không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tại phiên tòa, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên không buộc bị đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn bà Phan Thụy M với bị đơn ông Trịnh Quang T có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên đơn bà Phan Thụy M có đơn khởi kiện xin ly hôn được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đương sự là phù hợp.

Nguyên đơn bà Phan Thụy M với bị đơn ông Trịnh Quang T tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không hòa giải đoàn tụ thành; Tòa án đã xác minh thông tin mâu thuẫn và hiện nay nguyên đơn đã về nhà cha mẹ ruột sống ly thân với bị đơn. Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Xét về hôn nhân phải dựa trên sự tự nguyện của các bên cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng giữa nguyên đơn với bị đơn đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với bị đơn cho thấy tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn với bị đơn không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp, cho nguyên đơn bà Phan Thụy M được ly hôn với bị đơn ông Trịnh Quang T như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.

Về con chung: Nguyên đơn bà Phan Thụy M với bị đơn ông Trịnh Quang T có với nhau 02 người con chung tên Trịnh Phan M, sinh ngày: 17/11/2010 và Trịnh Phan N, sinh ngày: 11/3/2019, hiện nay đang sống chung với nguyên đơn. Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con; tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên là nghĩa vụ của cha mẹ; cháu Trịnh Phan M có nguyện vọng được sống chung với nguyên đơn là phù hợp với yêu cầu của nguyên đơn; còn cháu Trịnh Phan N mới hơn 36 tháng tuổi, là con gái, đang sống chung với nguyên đơn nên giao cháu Trịnh Phan N cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao 02 người con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung đối với bị đơn ông Trịnh Quang T không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Phan Thụy M phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Phan Thụy M. Cho bà Phan Thụy M được ly hôn với ông Trịnh Quang T.

Về con chung: Giao cháu Trịnh Phan M, sinh ngày: 17/11/2010 và cháu Trịnh Phan N, sinh ngày: 11/3/2019 cho nguyên đơn bà Phan Thụy M chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, bị đơn ông Trịnh Quang T không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung đối với bị đơn ông Trịnh Quang T không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Phan Thụy M phải nôp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002291 ngày 16/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận S, thành phố Cần Thơ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ