- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Ngô Tấn P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HNGĐ-ST Ngày: 17/9/2022 V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: ông Trịnh Minh Sỹ, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q - sinhnăm 1994 (cóđơnxinvắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã P1, huyện N, tỉnh Ninh Bình
2. Bị đơn: Anh Ngô Tấn P - sinh năm 1987 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã T, huyện Ư, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn, bản tự khai chị Nguyễn Thị Q là nguyên đơn trình bày: chị và anh Ngô Tấn P qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Lộc năm 2021. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì P sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung. Đặc biệt mỗi lần xích mích chuyện vợ chồng thì anh P đánh chị. Chị đã cố gắng nhẫn nhịn, nhờ bố mẹ hai bên khuyên bảo nhưng anh P không thay đổi; đỉnh điểm là khi chị đi làm thì anh P mang người phụ nữ khác đến nhà. Chị không thể nào chấp nhận được nên đã về nhà ngoại sống từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên chị cương quyết đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn anh P. Về con chung: chưa có. Về tài sản, công nợ chung: chị không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết.
Bị đơn anh Ngô Tấn P không có quan điểm, ý kiến.
Ông Ngô Mạnh Dần là bố anh Ngô Tấn P trình bày: Năm 2021 anh Lê Tấn P và chị Nguyễn Thị Q có đăng ký kết hôn và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục. Sau khi kết hôn, hai anh chị làm công nhân, cuộc sống liên tục xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau về chi tiêu sinh hoạt. Bố mẹ hai bên gia đình khuyên bảo, phân tích nhiều lần xong chị Q về ngoại ở ly thân từ đầu năm 2022. Bản thân anh P và gia đình cũng không muốn các cháu ly hôn. Hai anh chị chưa có con chung. Ông rất mong Tòa giải quyết để hai cháu đoàn tụ; trường hợp chị Q cương quyết ly hôn thì đề nghị Tòa giải quyết theo quy định pháp luật. Do cháu P bận đi làm nên ông nhận thay và giao ngay các văn bản tố tụng của Tòa cho anh P luôn trong ngày.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Q có đơn xin vắng mặt phiên tòa và vẫn giữ nguyên quan điểm, không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Anh Ngô Tấn P vắng mặt không có lý do, không xuấttrìnhtàiliệuchứngcứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Ngô Tấn P. Chị Q phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn Toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, ý kiÕn cña c¸c ® ¬ng sù, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:
Về tố tụng:
Về thực hiện tố tụng của Tòa án:
Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Q có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa giải quyết cho chị được ly hôn anh Ngô Tấn P. Do vậy, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.
Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Ngô Tấn P có đăng ký nơi cư trú: Thôn An Thái, xã Trầm Lộng, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập anh Ngô Tấn P đến toà án làm việc theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự; xong anh P vắng mặt tất cả các buổi làm việc tại tòa cũng như vắng mặt phiên tòa ngày 12/9/2022 nên Hội động xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, chị Q có đơn xin xét xử vắng mặt; anh P vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
Về chứng cứ: Tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các tài liệu được công bố tại phiên tòa; các đương sự đều xác nhận các tài liệu giao nộp đầy đủ trong hồ sơ vụ án, không còn tài liệu chứng cứ nào khác cần bổ sung. Các đương sự đã được tiếp cận toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ do các đương sự cung cấp; không có ý kiến nào phản đối về chứng cứ. Do vậy, những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết, đủ điều kiện là chứng cứ theo Điều 92, Điều 93 của BLTTDS.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q và anh Ngô Tấn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Lộc, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình ngày 23/3/2021 là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì xảy ra muân thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung; thường xuyên xảy ra cãi nhau. Hai vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2022. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng chị Q và anh P liên tục xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có niềm tin với nhau; vợ chồng đã sống ly thân mấy tháng nay. Nay chị Q có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
Xét thấy: Cuộc sống giữa chị Q và anh P mâu thuẫn từ lâu đã đến mức trầm trọng, sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt. Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Q là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Ngô Tấn P chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Q, anh Ngô Tấn P không đề nghị Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Q phải nộp án phí ly hôn và các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sư;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014);
Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Ngô Tấn P.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Ngô Tấn P chưa có con chung.
3. Về tài sản, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Ngô Tấn P đều không đề nghị Toà giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0057624 ngày 22 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Ứng Hoà; - Chi cục THADS Ứng Hoà; - Cơ quan thực hiện ĐKKH; - Các đương sự; - Lưu hs; V/P./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thiện |