vanban.org

Bản án 47/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Về con chung: Giao các cháu Lê Đăng Q – sinh ngày 19/6/2016 và Lê Bảo N – sinh ngày 18/6/2019 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở nhưng không đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Hồng T và Lê Đức H xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? * Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY AN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2022
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Xuân Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tính và bà Phạm Huỳnh Trâm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2021 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 75 năm 2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Võ Thị Hồng T - sinh năm 1997; Địa chỉ: thôn V, xã L, huyện X, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Anh Lê Đức H - sinh năm 1993; Hộ khẩu thường trú: thôn P, xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên. Chỗ ở hiện nay: tổ A, khu phố C, phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ và đơn đề nghị xử vắng mặt nguyên đơn chị Võ Thị Hồng T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên chứng nhận ngày 30/11/2015. Sau khi kết hôn, anh chị sống tại nhà chồng. Sau đó cùng lao động tại tỉnh Đồng Nai, giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tin tưởng lẫn nhau. Chị và anh H không còn sống chung với nhau từ khoảng giữa năm 2021. Bản thân thấy không hàn gắn hạnh phúc với anh H được nữa, hôn nhân không đạt được. Yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Trong thời gian hôn nhân chị và anh H có 02 con chung tên Lê Đăng Q – sinh ngày 19/6/2016 và Lê Bảo N – sinh ngày 18/6/2019, các con chung hiện đang sống cùng chị. Chị có nguyện vọng nuôi con chung. Không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo các tài liệu có tại hồ sơ và đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lê Đức H trình bày:

Về hôn nhân: Anh thống nhất với trình bày của chị T về tình trạng hôn nhân của anh chị. Hiện nay, anh và chị T không còn quan tâm lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Anh chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

Về con chung: Anh thống nhất với trình bày của chị T về con chung. Anh chị có 02 con chung tên Lê Đăng Q – sinh ngày 19/6/2016 và Lê Bảo N – sinh ngày 18/6/2019, các con chung hiện đang sống cùng chị T. Anh nhường quyền nuôi con cho chị T. Anh không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng cơ bản tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Hồng T. Về hôn nhân: chị T được ly hôn với anh H. Về con chung: giao các cháu Lê Đăng Q – sinh ngày 19/6/2016 và Lê Bảo N – sinh ngày 18/6/2019 cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Võ Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Đức H. Bị đơn có hộ khẩu tại huyện A, tỉnh Phú Yên. Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thụ lý vụ án tranh chấp ly hôn và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Đương sự có đơn xin xét xử vắng nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.

Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn bị đơn. Các đương sự có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp. Giữa chị T và anh H xảy ra mâu thuẫn, chị T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên chứng nhận ngày 30/11/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp, chị T đề nghị Tòa án cho ly hôn vì trong quá trình sống chung, giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, các bên không còn sống chung với nhau, không quan tâm lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Các bên đương sự đều đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử thấy giữa chị T và anh H không tìm được tiếng nói chung, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Về con chung: Các đương sự có 02 con chung tên Lê Đăng Q – sinh ngày 19/6/2016 và Lê Bảo N – sinh ngày 18/6/2019. Các bên đương sự đều thống nhất giao các con chung cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh H không cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của đương sự, giao các cháu Lê Đăng Q – sinh ngày 19/6/2016 và Lê Bảo N – sinh ngày 18/6/2019 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm con để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: chị Võ Thị Hồng T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 35, Điều 227, Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

* Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Võ Thị Hồng T được ly hôn với anh Lê Đức H.

* Về con chung: Giao các cháu Lê Đăng Q – sinh ngày 19/6/2016 và Lê Bảo N – sinh ngày 18/6/2019 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm con để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không giải quyết.

* Về án phí: chị Võ Thị Hồng T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng trước tại biên lai thu tiền số 0003769, ngày 04/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Phú Yên. Chị T đã nộp đủ.

* Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ