- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v tranh chấp “Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Vân;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HNGĐ-ST. Ngày 20 tháng 12 năm 2022 V/v tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Vĩnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lỗ Thị Quỳnh Nga; Ông Chu Văn Hữu
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Anh Xuân Ngọc: Thư ký Toà án của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đinh Trọng Nho - Kiểm sát viên
Trong ngày 20 tháng 12 năm 2022. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 76/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/11/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Vân, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu Dẹ 2, xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Hà Văn Lưu, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu Dẹ 2, xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
(Chị Vân có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lưu vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và lời khai tiếp theo - Nguyên đơn là chị Hà Thị Vân trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vân và anh Hà Văn Lưu tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 22/4/1997, đăng ký tại UBND xã Tam Thanh, huyện Thanh Sơn (nay là xã Tam Thanh, huyện Tân Sơn), tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại Khu Dẹ 2, xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Tình cảm vợ chồng bước đầu hòa thuận, hạnh phúc. Cách đây 4 - 5 năm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị Vân đi làm ăn tại Hà Nội, khi về nhà thì anh Lưu đã chửi chị Vân nhiều lần, gần đây nhất là vào tháng 4/2022 anh Lưu đã xuống Hà Nội yêu cầu chị Vân về nhà không cho đi làm nữa, chị Vân không đồng ý thì anh Lưu đã tát chị Vân mấy cái, kể từ đó chị Vân không về nhà nữa, vợ chồng chấm dứt quan hệ với nhau và sống ly thân từ đó tới nay. Nay chị Vân xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không hàn gắn được, chị Vân đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Lưu.
- Về con chung: Chị Vân và anh Lưu có 02 con chung là Hà Thị Phong, sinh ngày 25/10/1997 và Hà Văn Phú, sinh ngày 22/5/2001. Hiện các con của anh chị đã trưởng thành và có gia đình riêng nên chị Vân không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Vân không yêu cầu giải quyết.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn là anh Hà Văn Lưu trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lưu xác định việc kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như chị Vân trình bày là đúng. Anh Lưu xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn vì khi đó có con dâu mới về, con trai đi làm ăn xa, bố chồng và con dâu ở cùng nhà cảm thấy bất tiện nên anh Lưu bảo chị Vân về ở nhà chị Vân không nghe, anh Lưu đã xuống Hà Nội để đón chị Vân về nhưng chị Vân không đồng ý và có lời nói không hay nên anh Lưu có tát chị Vân vài cái. Kể từ đó chị Vân không về nhà nữa, vợ chồng sống ly thân. Nay chị Vân đề nghị ly hôn thì anh Lưu không đồng ý vì vợ chồng vẫn còn tình cảm, anh Lưu đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình.
- Về con chung: Anh Lưu xác định vợ chồng có 02 con chung như chị Vân trình bày là đúng. Hiện các con của anh chị đã trưởng thành và có gia đình riêng, anh Lưu không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh Lưu không yêu cầu giải quyết.
* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tại phiên tòa (Có bài phát biểu lưu trong hồ sơ):
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành các quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vân: Xử cho chị Vân được ly hôn anh Lưu; Về con chung: Chị Vân và anh Lưu đều xác định có 02 con chung là Hà Thị Phong, sinh ngày 25/10/1997 và Hà Văn Phú, sinh ngày 22/5/2001. Hiện các con của anh chị đã thành niên nên chị Vân không yêu cầu giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị Vân, anh Lưu không yêu cầu giải quyết nên Không đặt ra giải quyết trong vụ án này;
Về án phí: Chị Vân phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập đã được thẩm tra công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
1 Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Hà Thị Vân khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh Hà Văn Lưu, đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Vân và anh Lưu đều có nơi ĐKNKTT hiện nay tại xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn – chị Hà Thị Vân Hà có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hà Văn Lưu được triệu tập phiên tòa hợp lệ nhiều lần nhưng không đến tham gia phiên tòa. Tại phiên tòa Kiểm sát viên nhất trí xét xử vắng mặt các đương sự, đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử. Không ai có ý kiến gì về việc vắng mặt của các đương sự nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ Luật Tố tụng Dân sự.
2. Về nội dung:
2.1 Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Vân và anh Lưu kết hôn vào năm 1997, việc kết hôn là tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Thanh, huyện Thanh Sơn (nay là xã Tam Thanh, huyện Tân Sơn), tỉnh Phú Thọ, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Về tình cảm: Vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn cách đây 4- 5 năm, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng nhất là vào tháng 4/2022 do vợ chồng không thống nhất được quan điểm sống, anh Lưu đã có hành vi đánh chị Vân giữa nơi đông người, sau đó vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Chị Vân xác định tình cảm không còn, chị Vân đề nghị được ly hôn; Anh Lưu không đồng ý ly hôn vì cho rằng vẫn còn tình cảm với chị Vân, mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức phải ly hôn.
Xét thấy kể từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn anh Lưu và chị Vân không có biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, hai bên đã cắt đứt quan hệ tình cảm, sống ly thân được thời gian đã lâu. Trong quá trình giải quyết Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân của anh Lưu và chị Vân được UBND xã Văn Miếu cho biết vợ chồng anh Lưu và chị Vân trong quá trình chung sống đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Lưu thường uống rượu say rồi về nhà chửi vợ con, do đó chị Vân đã phải đi làm ăn ở Hà Nội, thỉnh thoảng mới về bên nhà ngoài chứ không về nhà cùng anh Lưu. Anh Lưu không đồng ý ly hôn, nhưng anh Lưu không có biện pháp khắc phục tình trạng mâu thuẫn vợ chồng nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận. Do vậy HĐXX thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng chị Vân, anh Lưu đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Vân, xử cho chị Vân được ly hôn anh Lưu là phù hợp.
2.2 Về con chung: Chị Vân và anh Lưu đều xác định có 02 con chung là Hà Thị Phong, sinh ngày 25/10/1997 và Hà Văn Phú, sinh ngày 22/5/2001, hiện các con của anh chị đã thành niên và có gia đình riêng nên không yêu cầu giải quyết. Do đó HĐXX không xem xét.
2.3 Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị Vân và anh Lưu đều không có yêu cầu giải quyết, HĐXX không đặt ra xem xét.
3. Về án phí: Chị Vân phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
4. Quyền kháng cáo: Các bên được quyền kháng cáo bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28; điểm a,khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Vân;
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị Vân được ly hôn anh Hà Văn Lưu.
2. Về con chung: Chị Vân và anh Lưu có 02 con chung là Hà Thị Phong, sinh ngày 25/10/1997 và Hà Văn Phú, sinh ngày 22/5/2001. Hiện các con của anh chị đã thành niên, không yêu cầu giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị Vân và anh Lưu đều không có yêu cầu giải quyết,
4. Về án phí: Chị Hà Thị Vân phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Vân đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số AA/2020/0006917 ngày 04/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn. Nay chuyển thành án phí.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Tam Thanh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Khắc Vĩnh |