- Tranh chấp gì? Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu — án dân sự — "ông Nguyễn Văn T khởi kiện bà Nguyễn Thị T1 về“Tranh chấp về hủy di chúc, đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc hủy di chúc đối với bà Lê Thị T1.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 640 Bộ luật Dân sự; Điều 116 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 47/2022/DS-ST Ngày 17 - 6 - 2022 V/v “Tranh chấp về hủy di chúc, đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Kiều Thị Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Anh Ly, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Vào ngày 17 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-DS ngày 10/5/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2022/QĐST-DS ngày 31/5/2022, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1942; thƣờng trú: Số 20/21, khu phố T2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B.
Ngƣời đại diện hợp pháp: Anh Lê Quang Đ, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn B, xã T3, huyện T5, tỉnh Q, là đại diện theo ủy quyền. Có mặt
- Bị đơn: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 160/20, tổ 17, khu phố T5,
thành phố B1, tỉnh Đ. Vắng mặt
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng.
Địa chỉ: Số 429, đƣờng ĐT 743A, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B.
Ngƣời đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Phƣơng T6 là ngƣời đại diện theo pháp luật.
Địa chỉ: Số 429, đƣờng ĐT 743A, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B là ngƣời đại diện theo pháp luật. Có đơn giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Châu Đức T7, sinh năm 1972; địa chỉ: K3/53C, khu phố 1, phƣờng B3, thành phố B1, tỉnh Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 14/3/2022, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Lê Quang Đ trình bày:
Ông Nguyễn Văn T không có quan hệ gì với bà Lê Thị T1. Khoảng năm 2021, khi biết ông Nguyễn Văn T ở một mình và có tài sản là quyền sử dụng đất hiện nay ông Nguyễn Văn T đang ở, bà Lê Thị T1 cố ý tiếp cận và hứa chăm sóc ông Nguyễn Văn T khi về già nhằm tạo thiện cảm với ông Nguyễn Văn T
Ngày 20/12/2021, bà Lê Thị T1 nói ông Nguyễn Văn T đi khám sức khỏe để biết tình trạng sức khoẻ, phòng tránh chủ động các bệnh tuổi già nên ông Nguyễn Văn T tin tƣởng và đã đến Trung tâm y tế thành phố Dĩ An để khám. Bà Lê Thị T1 là ngƣời trực tiếp đƣa ông Thiệt đi khám sức khỏe. Khi khám sức khỏe xong bà Thu không đƣa bất cứ giấy tờ, kết quả cho ông Thiệt, ông Thiệt có hỏi thì bà Thu nói sức khỏe ông Nguyễn Văn T bình thƣờng.
Đến ngày 22/12/2021, bà Thu đã dẫn theo một ngƣời đàn ông khoảng 50 tuổi tên là Châu Đức T7 đến nhà ông Nguyễn Văn T khiến ông Nguyễn Văn T rất bất ngờ và lo sợ, sau đó bà Thu đã sắp xếp cùng ông Châu Đức T7 ép ông Nguyễn Văn T cầm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T đối với diện tích là 254.8 m2 thuộc thửa đất số 3671 thuộc tờ bản đồ số 2AB-19 tại khu phố T2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B đến Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng để buộc ông Nguyễn Văn T phải lập di chúc để lại cho bà Lê Thị T1 đƣợc toàn quyền thừa hƣởng phần quyền sử dụng đất nêu trên sau khi ông Nguyễn Văn T chết. Vì tuổi già, sức yếu, trong gia đình lúc đó không có ai nên ông Nguyễn Văn T buộc phải nghe theo bà Thu đến Văn phòng công chứng cùng với bà Thu và ông Thắng, đồng thời phải làm theo những gì bà Thu và ông Thắng đƣa ra là ký bản di chúc ngày 22/12/2021 tại Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng.
Sau khi công chứng xong di chúc, bà Thu nói ông Thiệt về trƣớc, bà Thu cầm di chúc, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ tùy thân của ông Thiệt về sau, nhƣng sau đó chỉ đƣa cho ông Thiệt sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân, không trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tờ di chúc đã ký tại Văn phòng công chứng P. Ông Nguyễn Văn T đã nhiều lần liên lạc với bà Lê Thị T1 để đòi lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhƣng bà Thu không trả mà chỉ cung cấp bản phô tô tờ di chúc của ông Nguyễn Văn T. Lo sợ tuổi già, sức yếu và di chúc nêu trên sẽ có hiệu lực nếu ông Thiệt chết nên ông Thiệt liên hệ với Văn phòng công chứng để hủy di chúc ngày 22/12/2021 nhƣng do không có bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể thực hiện đƣợc việc hủy bỏ di chúc đƣợc.
Ông Nguyễn Văn T đã liên hệ với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An để xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đƣợc biết bà Lê Thị T1 có gửi đơn cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An thông báo rằng bà Thu đã giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T và cung cấp bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Thiệt.
Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu: Buộc bà Lê Thị T1 trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 3671 thuộc tờ bản đồ số 2AB-19 tại khu phố T2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Huỷ di chúc của ông Nguyễn Văn T lập ngày 22/12/2021, số công chứng 9678, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng.
- Bị đơn Bà Lê Thị T1:
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến Tòa án để lấy lời khai, hòa giải, tiếp cận chứng cứ và tham gia phiên tòa cho bà Lê Thị T1 nhƣng bà Lê Thị T1 không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không cung cấp chứng cứ và không nêu ý kiến đối với các yêu cầu của nguyên đơn.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng P do bà Nguyễn Thị Phƣơng T6 là đại diện theo pháp luật có yêu cầu giải quyết vắng mặt nhƣng tại văn bản trình bày ý kiến ngày 07/4/2022 bà Nguyễn Thị Phƣơng T6 trình bày:
Di chúc là do ông Nguyễn Văn T tự nguyện lập, khi Văn phòng công chứng P lập di chúc đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục công chứng di chúc theo quy định tại Luật Công chứng; về chủ thể di chúc: tại thời điểm công chứng, ông Nguyễn Văn T có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, trong trạng thái tinh thần hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, đủ sức khỏe để lập di chúc, không bị ai lừa dối, đe dọa hoặc cƣỡng ép; mục đích và nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; ông Nguyễn Văn T không đọc đƣợc, không viết đƣợc nên ông Thiệt đã mời ông Châu Đức T7 để làm chứng cho việc xác lập di chúc, Công chứng viên đã đọc và giải thích lại toàn bộ nội dung di chúc cho ông Thiệt nghe, ông Thiệt đồng ý với toàn bộ nội dung và điểm chỉ vào từng trang của di chúc trƣớc mặt Công chứng viên và ngƣời làm chứng; ông Châu Đức T7 có đủ điều kiện để làm chứng theo quy định của pháp luật, đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm của ngƣời làm chứng và đã ký tên và điểm chỉ vào di chúc trƣớc mặt Công chứng viên.
- Ngƣời làm chứng ông Châu Đức T7:
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến Tòa án để lấy lời khai, hòa giải, tiếp cận chứng cứ và tham gia phiên tòa cho ông Châu Đức T7 nhƣng ông Thắng không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, nên Tòa án không lấy đƣợc lời khai của ông Châu Đức T7 về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án
- Tại Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An ngày 13/6/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An thể hiện: Ngày 25/4/2022 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nhận đƣợc 01 thông báo đề ngày 22/4/2022 của bà Lê Thị T1, sinh năm 1979, địa chỉ số 160/20, tổ 17 khu phố T5, thành phố B1, tỉnh Đ gửi qua đƣờng bƣu điện. Thông báo của bà Lê Thị T1 có nội dung bà Lê Thị T1 đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 đối với thửa đất số 3671 thuộc tờ bản đồ số 2AB-19 tại khu phố T2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B cho ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị T1 đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An không cấp lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T. Gửi kèm theo thông báo là 01 bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T, đƣợc công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thành vào ngày 22/4/2022.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và ngƣời tham gia tố tụng là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Lê Quang Đ, đại theo pháp luật ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng P là bà Nguyễn Thị Phƣơng T6 đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn bà Lê Thị T1 và ngƣời làm chứng ông Châu Đức T7 đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng không có lý do. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đã bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Bị đơn bà Lê Thị T1 và ngƣời làm chứng ông Châu Đức T7 đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do, đại theo pháp luật ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng P bà Nguyễn Thị Phƣơng T6 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị T1, bà Nguyễn Thị Phƣơng T6, Châu Đức T7 là đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu Huỷ di chúc của ông Nguyễn Văn T lập ngày 22/12/2021, số công chứng 9678, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng và yêu cầu bị đơn bà Lê Thị T1 trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T là có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng của nguyên đơn và đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu hủy di chúc của nguyên đơn lập ngày 22/12/2021 và yêu cầu bị đơn phải trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hủy di chúc là giao dịch dân sự (hành vi pháp lý đơn phƣơng), đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyền sở hữu và quyền về tài sản nên quan hệ pháp luật đƣợc xác định trong vụ án này là “Tranh chấp về hủy di chúc, đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đƣợc quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 116 và Điều 640 Bộ luật Dân sự,
Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Bị đơn bà Lê Thị T1 đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do, đại diện theo pháp luật ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng P là bà Nguyễn Thị Phƣơng T6 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ngƣời làm chứng ông Châu Đức T7 đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do, tuy nhiên việc vắng mặt của ngƣời làm chứng không làm cản trở việc xét xử, giải quyết vụ án nên hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải dẫn giải ngƣời làm chứng đến phiên tòa. Căn cứ Điều 78, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị T1, bà Nguyễn Thị Phƣơng T6, ông Châu Đức T7.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về yêu cầu Huỷ di chúc của ông Nguyễn Văn T lập ngày 22/12/2021, số công chứng 9678, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng.
[3.1.1] Xét tính hợp pháp của di chúc: Tại Điều 630 Bộ luật Dân sự quy định di chúc hợp pháp là “1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. …. 3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực”. Ông Nguyễn Văn T là chủ sử dụng đất với diện tích là 254.8 m2 thuộc thửa đất số 3671 thuộc tờ bản đồ số 2AB-19 tại khu phố T2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B đƣợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 vì vậy có các quyền của chủ sử dụng đất theo quy định tại Điều 167 Luật Đất đai, trong đó có quyền để lại thừa kế. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T cho rằng ông Nguyễn Văn T bị cƣỡng ép, việc lập di chúc không đúng ý chí của ông Nguyễn Văn T, tuy nhiên căn cứ vào giấy khám sức khỏe ngày 20/12/2021, Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch có điểm chỉ của ông Thiệt và chữ ký của ngƣời làm chứng ông Châu Đức T7, di chúc của ông Nguyễn Văn T đƣợc lập tại Phòng công chứng Phú Thịnh, do ông Nguyễn Văn T không đọc đƣợc, không viết đƣợc nên ông Thiệt đã mời ông Châu Đức T7 để làm chứng cho việc xác lập di chúc, Công chứng viên đã đọc và giải thích lại toàn bộ nội dung di chúc cho ông Thiệt nghe, ông Thiệt đồng ý với toàn bộ nội dung bằng hình thức là điểm chỉ vào từng trang của di chúc trƣớc mặt Công chứng viên và ngƣời làm chứng; ông Châu Đức T7 có đủ điều kiện để làm chứng theo quy định của pháp luật, đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm của ngƣời làm chứng, đã ký tên vào di chúc trƣớc mặt Công chứng viên nên có căn cứ xác định vào thời điểm ông Thiệt lập di chúc còn khỏe mạnh, minh mẫn, không có sự ép buộc nào. Nội dung trong bản di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại điều 630 Bộ luật Dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T và đại diện hợp pháp của ông Thiệt không đƣa ra đƣợc bất cứ chứng cứ nào chứng minh cho việc ông Nguyễn Văn T lập bản di chúc ngày 22/12/2021, số công chứng 9678, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng là bị lừa đối, ép buộc. Từ những phân tích nêu trên có căn cứ xác định Di chúc của ông Nguyễn Văn T lập ngày 22/12/2021, số công chứng 9678, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng là hợp pháp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc hủy Di chúc của ông Nguyễn Văn T lập ngày 22/12/2021, số công chứng 9678, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng thấy rằng: Căn cứ khoản 1 Điều 640 Bộ luật Dân sự quy định “Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào”. Vì vậy ông Nguyễn Văn T yêu cầu hủy di chúc lập ngày 22/12/2021 là thực hiện quyền của ngƣời đã lập di chúc, quyền của chủ tài sản đƣợc pháp luật quy định nên có căn cứ chấp nhận theo những phân tích nêu trên.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T.
Ông Nguyễn Văn T cho rằng bà Lê Thị T1 đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T đối với diện tích là 254.8 m2 thuộc thửa đất số 3671 thuộc tờ bản đồ số 2AB-19 tại khu phố T2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B từ thời điểm ông Nguyễn Văn T ký công chứng di chúc tại Văn phòng công chứng P nên sau đó ông Nguyễn Văn T không thể thực hiện đƣợc những quyền của ngƣời đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Bà Lê Thị T1 không tham gia quá trình tố tụng, không có bất cứ ý kiến nào về việc có giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T hay không nhƣng căn cứ vào Biên bản xác minh của Tòa án nhân thành phố Dĩ An tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An thể hiện: Ngày 25/4/2022 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nhận đƣợc 01 thông báo đề ngày 22/4/2022 của bà Lê Thị T1 gửi qua đƣờng bƣu điện. Thông báo của bà Lê Thị T1 có nội dung bà Lê Thị T1 đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 đối với thửa đất số 3671 thuộc tờ bản đồ số 2AB-19 tại khu phố T2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B cho ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị T1 đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An không cấp lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T. Gửi kèm theo thông báo là 01 bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T, đƣợc công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thành vào ngày 22/4/2022. Đồng thời, tại Thông báo ngày 22/4/2022 của bà Lê Thị T1 gửi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An bà Lê Thị T1 có ghi rõ “ông Nguyễn Văn T đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 221969 bản gốc cho tôi nắm giữ”. Vì vậy có căn cứ xác định bà Lê Thị T1 đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T.
. Tại khoản 16 Điều 3 của Luật Đất đai quy định: "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”. Điều 164 của Bộ luật Dân sự quy định: “Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật”. Tại Điều 166 Bộ luật Dân sự quy định: “ Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”. Tại Thông báo ngày 22/4/2022 gủi Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An bà Lê Thị T1 cho rằng ông Nguyễn Văn T đã “Giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH221969 bản gốc cho tôi nắm giữ” nhƣng không cung cấp chứng cứ chứng minh về việc ông Nguyễn Văn T tự nguyện giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Văn T không đồng ý với việc giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lê Thị T1 và ông Nguyễn Văn T có yêu cầu trả lại. Việc bà Lê Thị T1 giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T là không đúng quy định pháp luật, cản trở ông Nguyễn Văn T việc thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất đƣợc pháp luật công nhận. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, buộc bà Lê Thị T1 phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn T bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T.
4 Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T với bà Lê Thị T1 về yêu cầu hủy di chúc của ông Nguyễn Văn T lập ngày 22/12/2021, số công chứng 9678, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng, buộc bà Lê Thị T1 phải trả lại 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T.
Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc giải quyết vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 26 và các Điều 78, 144, 147, 227, 228 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 116, Điều 164, 166 Điều 624, 630, 640 Bộ luật Dân sự; khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai.
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc hủy di chúc đối với bà Lê Thị T1.
Hủy di chúc của ông Nguyễn Văn T lập ngày 22/12/2021, số công chứng 9678, quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng P, tỉnh Bình Dƣơng
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc đòi lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với bị đơn bà Lê Thị T1.
Buộc bà Lê Thị T1 phải trả cho ông Nguyễn Văn T bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952, do Uỷ ban nhân dân huyện Dĩ An cấp ngày 18/05/2007 cho ông Nguyễn Văn T.
Trƣờng hợp bà Lê Thị T1 không trả cho ông Nguyễn Văn T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952 kiến nghị cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH221969, số vào sổ cấp GCN: H01952 để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T theo quy định tại Điều 77 Nghị định số 43/2014/NĐ - CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
3. Về án phí: Bị đơn bà Lê Thị T1 phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn T không phải chịu.
4. Đƣơng sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - Các đƣơng sự; - Lƣu: VT, HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Thị Uyên |