vanban.org

Bản án 47/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn C.

Buộc bà Nhữ Thị H có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M giá trị tài sản bị thiệt hại là 98.086.500đ (chín mươi tám triệu, không trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/9/2022) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các k…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 156 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA KAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/DS-ST
Ngày: 22 – 9 – 2022.
V/v: “Tranh chấp về bồi thường
Thiệt hại ngoài hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Yâo Bkrông và bà Nguyễn Thị Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt. Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14/6/2022 và 22/9/2022, tại Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 114/2021/TLST – DS ngày 01 tháng 06 năm 2021, về việc: “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2022/QĐXX – ST ngày 25 tháng 5 năm 2022 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 04/2022/QĐST-DS ngày 14/6/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1968. Nơi cư trú: Thôn 7, xã Cư P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nhữ Thị H, sinh năm: 1983. Nơi cư trú: Thôn 6A, xã Cư P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị M. Nơi cư trú: Thôn 7, xã Cư P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

Người làm chứng:

+ Ông Lương Văn H và bà Lành Thị P. Nơi cư trú: Thôn 6A, xã Cư P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn T. Nơi cư trú: Thôn 6A, xã Cư P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo đơn khởi kiện ngày 19/4/2021 và các lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, cũng như tại phiên toà nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Vào ngày 17/3/2021 tại vườn điều của gia đình ông Nguyễn Văn C, ở thôn 6A, xã Cư Prông bị cháy nên ông C đã trình báo với Công an xã Cư P. Quá trình làm việc Công an xã đã tiến hành xác minh và xác định nguyên nhân cháy là do bà Nhữ Thị H đốt lá điều khô bên vườn nhà bà H giáp ranh với vườn điều nhà ông Clàm cháy của gia đình ông Ctổng cộng là 808 cây điều, trong đó có 135 cây chết thân và cành đã được Công an xã Cư P lập biên bản, bà H ký xác nhận vào biên bản. Toàn bộ số cây điều nêu trên đều được trồng thuộc một phần tại các thửa đất theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 046860; số A0 046862; số A0 046861 và số A0 046864, địa chỉ thửa đất tại Thôn 6A, xã Cư P, huyện K.

Đến ngày 30/3/2021 Công an xã đã mời gia đình tôi với gia đình ông Lương Văn H và bà Nhữ Thị H lên vườn điều để kiểm đếm kết quả: Gia đình tôi bị cháy diện tích khoảng 30.000m2, có 808 cây điều trồng năm thứ 4 bị ảnh hưởng, trong đó có 135 cây chết thân, chết cành. Còn gia đình ông Lương Văn H bị cháy diện tích khoảng 9.000m2 có 102 cây điều trồng năm thứ 6 bị cháy, trong đó có 27 cây chết thân, chết cành. Sau khi kiểm đếm Công an xã đã mời các bên gia đình lên để hòa giải và gia đình tôi với gia đình ông Lương Văn H yêu cầu bà H bồi thường giá trị vườn cây điều bị cháy là 35.000.000đ/ 1hécta nhưng bà Hkhông đồng ý chỉ chấp nhận mức bồi thường là 25.000.000đ/ hécta, sau đó Công an xã đã động viên chúng tôi thỏa thuận mức bồi thường là 30.000.000đ/1 hécta nhưng các bên đều không đồng ý. Quá trình làm việc tại Công an xã cho rằng giá trị số cây điều của gia đình nhà tôi với cây điều nhà ông Hbị thiệt hại dưới 100 triệu đồng nên không có cơ sở để xử lý hình sự. Hơn nữa việc cháy vườn điều xảy ra ngoài ý muốn nên tôi yêu cầu Công an lập biên bản để tôi làm căn cứ khởi kiện dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt đối với bà Nhữ Thị H đến Tòa án nhân dân huyện Kr và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nhữ Thị H bồi thường giá cây trị 808 cây điều cao sản trồng năm thứ 4 với diện tích khoảng 3 hécta với giá là 100.000.000đ/hécta thành tổng số tiền là 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng chẵn).

Căn cứ vào chứng thư thẩm định giá tài sản, ngày 23/3/2022 của Công ty CPTH Ban Mê xác định 575 cây điều bị chết thân, chết cành là điều cao sản có giá trị là 158.872.500đ. Vì vậy tôi yêu cầu bà Nhữ Thị H phải bồi thường cho tôi giá trị số cây điều bị chết là 158.872.500đ (một trăm năm mươi tám triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm đồng). Tại phiên tòa hôm nay tôi xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền yêu cầu bồi thường là 141.127.500đ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa.

* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Nhữ Thị H trình bày: Khoảng từ 4 giờ đến 8 giờ sáng ngày 17/3/2021 tôi vào rẫy nhà tôi để đốt lá điều khô như mọi ngày, trước khi đốt tôi lấy chổi dồn thành từng nhóm nhỏ để đốt, tôi chỉ đốt lá điều đến khoảng 8 giờ là nghỉ đi về nhà. Đến khoảng 12 giờ trưa ngày 17/3/2021 chồng tôi là ông Nguyễn Văn T nói với tôi là có ông Nguyễn Văn C gọi điện thoại báo cho chồng tôi biết việc vườn điều nhà ông Cbị cháy. Khi tôi lên đến nơi đã có Công an xã Cư P và ban tự quản thôn đều có mặt tại khu vực điều bị cháy và tôi phát hiện đường biên vườn điều nhà tôi, vườn điều nhà ông Nguyễn Văn C và đường biên vườn điều nhà ông Lương Văn H cũng đang cháy. Sau đó Công an xã lập biên bản và kiểm đếm số cây điều bị cháy thì vườn nhà ông Lương Văn Hcó 102 cây và vườn nhà ông Nguyễn Văn C có 808 cây, lúc đó do hoảng loạn nên tôi đã ký vào biên bản do Công an xã Cư P lập. Đến ngày 30/3/2021 Công an xã đã mời chúng tôi lên để hòa giải, sau đó xuống vườn điều để kiểm đếm kết quả: Vườn nhà ông Lương Văn H có 102 cây điều bị cháy, nhưng chỉ có 27 cây chết và vườn nhà ông Nguyễn Văn C có 808 cây điều trồng năm thứ 4, có 135 cây chết. Tại buổi hòa giải tôi không xác định được nguyên nhân của việc cháy vườn điều nhà ông C, ông Hvà tôi cũng không biết việc cháy vườn điều có xuất phát từ việc tôi đốt lá điều ở vườn nhà tôi cháy sang hay không nhưng tôi nghĩ sự việc cháy vườn điều xảy ra đều ngoài ý muốn nên tôi cũng đồng ý bồi thường cho ông Lương Văn H, ông C với giá là 30.000.000/hécta nhưng các bên không đồng ý nên ông C, ông H yêu cầu Công an xã lập biên bản các bên ký xác nhận để khởi kiện dân sự. Sau khi lập biên bản gia đình tôi với gia đình ông H thống nhất bồi thường cho ông Lương Văn H giá trị cây điều là 102 cây trồng năm thứ 6, với giá là 27.000.000đ. Còn gia đình ông Nguyễn Văn C đòi tôi bồi thường thiệt hại với 03 hécta nhưng trên thực tế gia đình ông C chỉ chết 135 cây điều khoảng hơn 1,3 hécta nên tôi không đồng ý bồi thường cho ông C.

Tại phiên tòa ông Cyêu cầu tôi bồi thường 575 cây điều chết với tổng số tiền 158.872.500đ thì tôi không đồng ý với lý do: Từ khi xảy ra vụ cháy cho đến nay gia đình ông Cbỏ bê, không chăm sóc, không bón phân bỏ cỏ mọc um tùm dẫn đến cây điều chết nhiều, chứ sau khi xảy ra vụ cháy chồng tôi có nhờ người đi kéo thước đo diện tích nhà ông Ccháy 135 cây điều với diện tích cháy khoảng gần 1,3 héc ta chứ không phải diện tích cháy là 3 héc ta như ông Cđã trình bày. Vì vậy tôi chỉ đồng ý bồi thường cho ông Csố tiền 30.000.000đ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày: Tôi thống nhất với ý kiến trình bày của ông Cvà tài sản chung của ông Cvà bà Mái, vì vậy bà Mái yêu cầu bà Nhữ Thị H có trách nhiệm bồi thường cho ông Cvà bà Mái.

* Tại biên bản thẩm định tại chỗ ngày 24/11/2021 và biên bản thẩm định tại chỗ bổ sung lập ngày 25/02/2022 xác định có 575 cây điều chết, trồng vào năm 2017.

* Biên bản định giá ngày 12/01/2021của Hội đồng định giá tài sản xác định giá trị 575 cây điều kinh doanh năm thứ nhất, loại cây điều thường, loại c, có tổng giá trị là 79.436.250đ, (theo mức: 575 cây điều x 276.300đ/cây x 50% (giá cây điều thường bằng 50% giá cây điều ghép) = 79.436.250đ).

Ông Cvà bà H không đồng ý kết quả định giá trên, ngày 23/03/2022 ông Clàm đơn yêu cầu Công ty CPTH Ban Mê thẩm định giá và bà H thống nhất không có ý kiến gì.

* Tại chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần Trung Hải Ban Mê, ngày 23/03/2022 xác định: 575 cây điều trồng năm 2017, loại cây điều cao sản (điều ghép), loại C có tổng giá trị là 158.872.500đ (theo mức: 575 cây điều x 276.300đ/cây = 158.872.500đ).

Do kết quả định giá của Hội định giá tài sản huyện Ea Kar và kết quả thẩm định giá của Công ty CPTH Ban Mê không thống nhất được tài sản tranh chấp là loại cây điều thường hay điều cao sản (điều ghép).

Để có căn cứ giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật, ngày 05/8/2022 Tòa án nhân dân huyện Ea Kar ra Quyết định trưng cầu giám định số 10/QĐTC-GĐ yêu cầu Viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm Tây Nguyên xác định đối với cây điều của gia đình ông Nguyễn Văn C bị thiệt hài là loại điều thường hay là cây điều cao sản (điều ghép), được trồng vào thời gian nào?.

Tại Công văn số 206/VNLT, ngày 22/8/2022 của Viện khoa học Kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên xác định: Cây điều được trồng tại thôn 6A, xã Cư Prông của gia đình ông Nguyễn Văn C là điều ghép ( điều cao sản).

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho các bên đương sự. Tiến hành thu thập chứng cứ, đối chất, mở Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật, nhưng các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về nội dung vụ án. Căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận:

Tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn C yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nhữ Thị H có trách nhiệm bồi thường cho ông Cvà bà Nguyễn Thị M số tiền 158.872.500đ. Đồng thời rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền là 141.127.500đ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa.

Bị đơn bà Nhữ Thị H không đồng ý bồi thường số tiền 158.872.500đ theo yêu cầu khởi kiện của ông Cvà chỉ đồng ý bồi thường số tiền bị thiệt hại cho ông Nguyễn Văn C là 30.000.000đ.

Bà Nguyễn Thị M thống nhất với ý kiến trình bày của ông Cnên không tranh luận gì thêm. Đề nghị HĐXX tuyên buộc bà H bồi thường cho vợ chồng ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị M theo yêu cầu khởi kiện của ông C.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự đề nghị HĐXX tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C. Buộc bà Nhữ Thị H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M số 98.086.500đ. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông C đối với số tiền 60.786.000đ. Tại phiên tòa ông Crút một phần yêu cầu khởi kiện 141.127.000đ, cần châp nhận, không đề cập giải quyết nữa. Đương sự phải chịu chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về hình thức: Căn cứ đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn C lập ngày 19 tháng 4 năm 2021 và chứng cứ k m theo đơn khởi kiện, Toà án nhân dân huyện Ea Kar xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” được quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn bà Nhữ Thị H, cư trú tại Thôn 6A, xã Cư P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện K thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Xét về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C yêu cầu bà Nhữ Thị H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với 575 cây điều cao sản với tổng số tiền là 158.872.500đ, HĐXX xét thấy: Căn cứ vào biên bản sự việc, lập ngày 17/3/2022 và biên bản xác định hiện trạng vườn cây điều bị cháy, lập ngày 30/3/2021 của Công an xã Cư P xác định tổng số cây điều bị ảnh hưởng 808 cây, trong đó có 135 cây điều đã chết thân và chết cành. Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ Tòa án đã tiến hành xác minh, làm việc với Công an xã Cư P và được ông Lữ Thành N, Trưởng Công an xã xác định: Vào ngày 30/3/2021 Công an xã Cư P cùng với các hộ có liên quan tiến hành kiểm tra hiện trạng và kiểm đếm xác định hộ ông Lương Văn H bị cháy 102 cây, điều trồng năm thứ 6 và có 27 cây cháy thân, cháy cành; hộ ông Nguyễn Văn C có 808 cây điều bị ảnh hưởng, có 135 cây cháy thân và cành, số cây điều còn lại 673 cây bị ảnh hưởng như một số cây bị khô lá, một số cây đang mọc lại chồi non nhưng không xác định được mức độ ảnh hưởng của cây điều bị thiệt hại cụ thể như thế nào và đã được ông Nguyễn Văn C và bà Nhữ Thị H thừa nhận.

Như vậy 135 cây điều của gia đình ông C bị cháy thân và cành là do bà H đã có hành vi đốt lá điều gây ra nên lỗi hoàn toàn của bà H. Do đó cần buộc bà H phải có trách nhiệm bồi thường giá trị 135 cây điều cho ông C là phù hợp.

Đối với 440 cây chết sau khi cháy (575 cây -135 cây), HĐXX thấy: Nguyên nhân dẫn đến cây điều chết một phần là do lỗi vô ý đốt lá điều của bà H, một phần do lỗi của ông C bỏ bê, không chăm sóc. Do đó, cần xác định cây điều chết lỗi thuộc về hai bên nên mỗi người phải chịu trách nhiệm 50% trên tổng số 440 cây điều chết sau khi cháy nên mỗi người phải chịu 50% thiệt hại với số tiền là 66.786.000đ.

[2.2] Xét ý kiến của bà Nhữ Thị H cho rằng không đồng ý bồi thường cho ông Nguyễn Văn C giá trị thiệt hại đối với 440 cây chết sau khi cháy là do ông C không chăm sóc, mà chỉ đồng ý bồi thường cho ông C số tiền 30.000.000đ, HĐXX nhận định: Quá trình thu thập chứng cứ bà Nhữ Thị H thừa nhận đã có hành vi đốt lá điều làm cháy vườn điều nhà ông Nhữ Văn C tổng cộng là 808 cây điều bị ảnh hưởng và có 135 cây điều chết thân và cành. Sau khi xảy ra vụ cháy đến nay vườn điều nhà ông C bị chết thêm tổng cộng là 440 cây điều, tại phiên tòa bà H thừa nhận đã có hành vi làm cháy vườn điều nhà ông C và ông C cũng đã thừa nhận từ khi bà H làm cháy vườn đến nay ông bỏ bê không chăm sóc vườn cây là mỗi người phải chịu trách nhiệm 50% giá trị thiệt hại của 440 cấy điều chết sau khi cháy. Do đó HĐXX buộc bà Nhữ Thị H bồi thường cho ông C 50% tổng giá trị bị thiệt hại của 440 cây điều là có căn cứ pháp lý nên không chấp nhận ý kiến của bà H về việc chỉ chấp nhận bồi thường cho ông C số tiền 30.000.000đ mà không đồng ý bồi thường 50% giá trị tài sản bị thiệt hại sau khi cháy.

[2.3] Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M tại phiên tòa, đề nghị HĐXX tuyên buộc bà Nhữ Thị H bồi thường thiệt hại giá trị cây điều ch ông C và bà M, HĐXX thấy: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Cvà bà M xác định đối với số cây điều bị thiệt hại nêu trên là tài sản chung của ông C, bà M tạo lập. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu buộc trả cho ông C và bà M.

Từ những phân tích trên, HĐXX căn cứ Điều 589 BLDS; Quyết định số 10/QĐ/2020/UBND, ngày 13/4/2020 quy định về đơn giá bồi thường, hỗ trợ cây trồng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và chứng thư thẩm định giá ngày 23/03/2022, buộc bà Nhữ Thị H bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn C, cụ thể như sau:

+ Giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi của bà H gây ra là: 135 cây x 276.300đ/ cây = 37.300.500đ

+ Giá trị tài sản bị thiệt hại của cây điều sau khi bị cháy là: 440 cây x 276.300đ/ cây = 121.572.000đ. Do đó, mỗi người phải chịu 50% giá trị tài sản bị thiệt hại là 66.786.000đ.

Như vậy tổng cộng số tiền mà HĐXX buộc bà Nhữ Thị H phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M số tiền là 98.086.500đ (chín mươi tám triệu, không trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

[4] Theo đơn khởi kiện, lập ngày 19/4//2021 ông Nguyễn Văn C khởi kiện yêu cầu bồi thường số tiền 300.000.000đ. Tại phiên tòa nguyên đơn chỉ yêu cầu bồi thường số tiền 158.872.500đ trong tổng số tiền khởi kiện và rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 141.127.000đ, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C đối với số tiền 141.127.000đ (một trăm bốn mươi mốt triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; Chi phí giám định tài sản: Căn cứ Điều 157 và Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Buộc bị đơn Nhữ Thị H phải chịu 2.900.000đ tiền xem xét thẩm định, định giá tài sản và 3.400.000đ tiền chi phí giám định tài sản, tổng cộng số tiền 6.300.000đ, số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng mà nguyên đơn Nguyễn Văn C đã nộp, Tòa án đã chi phí xong. Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C được Tòa án chấp nhận, HĐXX buộc bà Nhữ Thị H có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Văn C số tiền 6.300.000đ, trong đó tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản là 2.900.000đ và 3.400.000đ tiền chi phí giám định tài sản.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bà Nhữ Thị H phải chịu tiền án phí dân sự đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là: 98.086.500đ x 5% = 4.904.325đ.

Buộc ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận là: 66.786.000đ x 5% = 3.339.300đ.

[6] Xét ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận toàn bộ ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 203, khoản 3 Điều 209, Điều 220 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn C.

1. Buộc bà Nhữ Thị H có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M giá trị tài sản bị thiệt hại là 98.086.500đ (chín mươi tám triệu, không trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/9/2022) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án (bà Nhữ Thị H) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền là 66.786.000đ (sáu mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn đồng).

3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C đối với số tiền 141.127.000đ (một trăm bốn mươi mốt triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

4. Về tiền chi phí tố tụng: Buộc bà Nhữ Thị H có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M số tiền 6.300.000đ, trong đó tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản là 2.900.000đ và 3.400.000đ tiền chi phí giám định tài sản.

5. Về án phí và tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc bà Nhữ Thị H phải chịu 4.904.325đ (bốn triệu chín trăm linh bốn nghìn ba trăm hai mươi lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

- Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận là: 66.786.000đ x 5% = 3.339.300đ. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 7.500.000đ tạm ứng án phí ông C đã nộp, ông C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí còn lại là 4.160.700đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 60AA/2021/0005381, ngày 27/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ