- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN - TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HSST Ngày: 29-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lâm
Các hội thẩm nhân dân:1. Ông Lý Trung Hiếu
2. Bà Hà Thị Minh Quế
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, Tòa án nhân dân huyện Văn Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2021/TLST-HS, ngày 01 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2021/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Vũ Mạnh T, Tên gọi khác: Không, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1988, tại huyện V, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Xuân T1 (tên gọi khác: Vũ Văn T1) và bà Lương Thị H; Vợ con: Chưa có.
Tiền sự: Ngày 10/9/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Văn Yên quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở chữa bệnh đối với người nghiện ma túy. Ngày 24/01/2017 bị Công an xã Mậu Đông, huyện Văn Yên xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi "trộm cắp tài sản". Bị cáo đã chấp hành xong các Quyết định trên và được xóa tiền sự.
Tiền án: Có 03 tiền án. Ngày 26/4/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Ngày 13/11/2018 bị Toà án nhân dân huyện Văn Yên xử 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Ngày 27/11/2019 bị Toà án nhân dân huyện Văn Yên xử 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”
Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù của các bản án nêu trên nhưng đến nay chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2021hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Văn Yên. Có mặt
* Những người bị hại:
1. Anh Trần Văn C, sinh năm 1974. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái
2. Chị Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1975. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phùng Ngọc H1, sinh năm 1972. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn S, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái
2. Anh Vũ Ngọc T2, sinh năm 1984. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái
* Những người làm chứng:
1. Anh Trần Văn H2, sinh năm 1980. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái
2. Anh Trần Văn P, sinh năm 1992. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 12/6/2021 Vũ Mạnh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21E1-183.xx của anh Vũ Ngọc T2 từ nhà T đến Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái. T quan sát thấy xưởng nghiền tinh bột sắn của gia đình anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị Kim X ở: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái ở giáp đường bên trong có nhiều đồ vật bằng kim loại thấy xung quanh không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T điều khiển xe mô tô dừng ở ven đường rồi đi bộ vào xưởng tinh bột sắn thấy bên dưới máng băng chuyền đặt ở sân bê tông có 04 thanh sắt T đi đến bê 01 thanh sắt ra để lên yên xe mô tô và điều khiển xe chở thanh sắt đến bán cho anh Phùng Ngọc H1, trú tại: Thôn S, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái là chủ cửa hàng T mua sắt vụn được 50kg với giá 6.000 đồng/01kg được số tiền 300.000 đồng.
Sau khi bán xong thanh sắt, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21E1-183.xx quay lại xưởng nghiền tinh bột của anh Trần Văn C để trộm cắp những thanh sắt còn lại. T tiếp tục lấy 01 thanh sắt có đặc điểm tương tự thanh sắt T lấy trộm lần trước mang ra xe và chở đến bán cho anh Phùng Ngọc H1 được 49,5 kg anh H1 trả cho T số tiền 300.000 đồng.
Tiếp tục T điều khiển xe mô tô quay lại xưởng nghiền tinh bột của anh Trần Văn C vào xưởng lấy 01 thanh sắt có đặc điểm tương tự hai thanh sắt T đã lấy được. Khi T đang bê thanh sắt đến vị trí để xe mô tô thì thấy anh Trần Văn P đang đứng ở nhà nhìn ra chỗ T nên T đã bỏ thanh sắt xuống đường và điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Khi đi được khoảng 30 mét, T gặp anh Trần Văn H2 đang điều khiển xe mô tô ngược chiều. T điều khiển xe mô tô về nhà, dùng số tiền bán đồ trộm cắp được mua ma túy sử dụng hết.
Tại bản Kết luận định giá số: 17/ĐGTS-HĐĐG ngày 20/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Văn Yên kết luận:
- Thanh sắt có chiều dài 1,5m; chiều cao là 0,45m, ở phần giữa thanh sắt có gắn một cầu xe ô tô; phía dưới gắn một bu-li hình tròn có đường kính 0,3m. Thanh sắt có trọng lượng là 49,5kg có giá trị là: 1.875.000 đồng.
- Thanh sắt có chiều dài 1,5m; chiều cao là 0,45m, ở phần giữa thanh sắt có gắn một cầu xe ô tô; phía dưới gắn một bu-li hình tròn có đường kính 0,3m. Thanh sắt có trọng lượng là 50kg có giá trị là: 1.875.000 đồng.
- Thanh sắt có chiều dài 1,5m; chiều cao là 0,45m, ở phần giữa thanh sắt có gắn một cầu xe ô tô; phía dưới gắn một bu-li hình tròn có đường kính 0,3m. Thanh sắt có trọng lượng là 59kg có giá trị là: 1.875.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bản cáo trạng số: 42/CT-VKS-VY ngày 01-9-2021của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên truy tố bị cáo Vũ Mạnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:
+ Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản
1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về vật chứng và án phí của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa những người bị hại anh Trần Văn C, chị Nguyễn Thị Kim X và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phùng Ngọc H1 và anh Vũ Ngọc T2 vắng mặt nhưng đã có lời khai tại hồ sơ, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Lời khai của bị cáo Vũ Mạnh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác đã T thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng vào sự chủ quan, mất cảnh giác của gia đình anh Trần Văn C khoảng 18 giờ ngày 12/6/2021 Vũ Mạnh T đã vào xưởng nghiền tinh bột sắn của anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị Kim X trộm cắp 03 thanh sắt đều có chiều dài 1,5 mét, chiều cao 0,45 mét, ở giữa có gắn cầu xe ô tô, phía dưới có gắn buly đường kính 0,3 mét, tổng giá trị là 5.625.000 đồng (năm triệu, sáu trăm hai mươi năm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Vũ Mạnh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Xét về nhân thân, bị cáo Vũ Mạnh T có sức khỏe, đủ năng lực nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của bản thân. Bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền nhanh chóng nên bị cáo đã phạm tội. Năm 2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Văn Yên quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở chữa bệnh đối với người nghiện ma túy. Năm 2017 bị Công an xã Mậu Đông xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (đã được xóa tiền sự). Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Năm 2018 bị Toà án nhân dân huyện Văn Yên xử 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Năm 2019 bị Toà án nhân dân huyện Văn Yên xử 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù (đến nay chưa được xóa án tích) bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa các khuyết điểm của bản thân mà tiếp tục phạm tội. Đây thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức tu dưỡng và rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Do đó cần có một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có thể giáo dục, cải tạo được bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung.
Bị cáo phạm tội chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng "tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo. Bố đẻ bị cáo là người có công với Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng ba Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, Thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 21E1 - 183.xx là tài sản hợp pháp của anh Vũ Ngọc T2 (anh ruột của T), việc T sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội anh T2 không biết. Nên Công an huyện Văn Yên đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh T2 là phù hợp.
Đối với 02 chiếc cầu xe ô tô có đường kính 0,3 mét do anh Phùng Ngọc H1 giao nộp, Công an huyện Văn Yên đã trả lại cho anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị Kim X chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác:
Những người bị hại anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị Kim X đã nhận lại được tài sản bị trộm cắp, nay không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cử khoản tiền nào nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Phùng Ngọc H1, là người mua tài sản do Vũ Mạnh T trộm cắp đem bán. Khi mua anh H1 không biết đó là tài sản do T phạm tội mà có. nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với anh H1 là phù hợp. Nay anh Phùng Ngọc H1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền 600.000 đồng do đã mua tài sản của T trộm cắp đem bán nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quá trình điều tra xác định Vũ Mạnh T sử dụng số tiền bán tài sản trộm cắp mua ma túy của một người đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ về sử dụng. Công an huyện Văn Yên đã tiến hành xét nghiệm ma túy với Vũ Mạnh T kết quả dương tính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Mạnh T là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Vũ Mạnh T, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, xác minh, xử lý trong vụ án.
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, những người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 6 năm 2021 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo
3. Về án phí: Bị cáo Vũ Mạnh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Văn Yên; - CA huyện Văn Yên; - Chi cục THADS huyện Văn Yên; -Trại tạm giam CA tỉnh Yên Bái; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - Bị cáo; Bị hại; Người có QL&NVLQ; - THA phạt tù (2); - Lưu HS, TA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Đình Lâm |