vanban.org

Bản án 47/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 15/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

1/ Về tội danh: Tu ên bố: Bị cáo Ngu n Xuân Tr phạm tội “Trộm cắp t i sản” v tội “Cướp t i sản”. 2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngu n Xuân Tr 12 tháng tù về tội “Trộm cắp t i sản” 08 n m 06 tháng tù về tội “Cướp t i sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Ngu n Xuân Tr phải chấp h nh hình phạt chung c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Tr - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 55 Bộ luật hình sự mới
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2021/HSST
Ngày: 15/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH – TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngu n V n Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngu n V n Giang và ông Trần V n Tích.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm V n Bẩ , Thư ký Toà án nhân dân hu ện Kim Th nh t nh Hải Dương.

- i di n i n ki m s t nh n d n hu n im Thành t nh Hải ương tham gia phiên toà: Ông Vũ V n Tiến Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 n m 2021, tại Hội Tr xét xử Tòa án nhân dân hu ện Kim Thành, t nh Hải Dương, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số 41/2021/HSST ngày 05 tháng 8 n m 2021, theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 44/QĐXXST-HS ngày 01/9/2021, đối với bị cáo: Nguyễn Xuân Tr , sinh n m 1991. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ v n hoá: 11/12. Nghề nghiệp: Không. Họ tên bố: Nguy n Xuân T, sinh n m 1947. Họ tên mẹ: Phạm Thị Nh, sinh n m 1949. Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 3.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án. Bản án số 22/2016/HSST ngày 21/7/2016, Nguy n Xuân Tr bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án còn buộc Tr phải bồi thường cho những người bị hại và phải chịu án phí. Ngày 19/5/2017, Tr thi hành xong tiền án phí; ngày 18/7/2017, Tr chấp hành xong hình phạt tù của bản án; đến ngày 12/3/2021, Tr chưa bồi thường dân sự cho bị hại.

Tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự. Tại quyết định số 24/QĐ-TA ngày 10/9/2019, Nguy n Xuân Tr bị TAND huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý h nh chính đưa v o cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng.

Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nam Sách, t nh Hải Dương từ ng 12/3/2021 đến ngày 18/3/2021. Hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nam Sách và Trại tạm giam Công an t nh Hải Dương từ ng 17/3/2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị h i:

1/ Anh Lê Hồng Kh, sinh n m 1980 v chị Lê Thị Hải V(Vợ anh Kh), sinh n m 1988. Địa ch : Thôn P, xã Đ hu ện K t nh Hải Dương;

2/ B Ngu n Thị Y sinh n m 1968. Địa ch : Thôn T, xã Đ hu ện K t nh Hải Dương.

(Những người bị hại đều vắng mặt v đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

1/ Ngu n Ho ng D sinh n m 1979;

Địa ch : Số 8 H, K, L Hải Phòng.

2/ Phùng V n D1 sinh n m 1961;

3/ Phạm V n L sinh n m 1974.

Đều có địa ch : Thôn T, xã Đ, hu ện K t nh Hải Dương.

(Những người l m chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v di n biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 ngày 12/3/2021, Nguy n Xuân Tr điều khiển xe mô tô biển số 16P1-1318 (Xe do Tr mượn của anh trai là anh Nguy n Hoàng D, sinh n m 1979, trú tại: Phường K, quận L, thành phố Hải Phòng) đến Công an thành phố Hải Phòng để làm thẻ c n cước công dân. Khi đi đến khu vực cổng trụ sở Công an thành phố Hải Phòng, Tr nhìn thấy có 6 - 7 người mặc quần áo thường phục đi đến gần chỗ Tr , do nghiện ma túy nên Tr nghĩ l công an mặc thường phục đến bắt Tr đi cai nghiện nên Tr điều khiển xe mô tô bỏ chạy về phía t nh Hải Dương. Khi đi đến khu vực cổng làng P, xã Đ, huyện K, t nh Hải Dương thì xe mô tô do Tr đang điều khiển bị hết x ng Tr bỏ lại xe ở khu vực đất trống bên phải đường rồi đi bộ vào trong làng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực nhà chị Lê Thị Hải V, sinh n m 1988 ở thôn P, xã Đ, huyện K, t nh Hải Dương Tr phát hiện thấy nhà chị V mở cổng, trong sân dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE ALPHA, biển số 34B1-674.94 của vợ chồng chị V không có người trông giữ, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện, Tr nả sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô của vợ chồng chị V làm phương tiện đi lại. Tr đi đến vị trí dựng chiếc xe trên quan sát xung quanh thấy chiếc kéo kim loại dài 22,5cm của gia đình chị V để ở trên trạn bát gần đó Tr lấy chiếc kéo đút v o túi quần đang mặc rồi cho xe nổ máy bỏ chạy. Do không biết đường nên Tr điều khiển xe mô tô đến khu vực nghĩa trang thôn Đ, xã Đ thì không đi tiếp được do đường cụt, Tr qua đầu xe lại thì bị ngã, cả xe và Tr bị rơi xuống mương nước rìa đường. Tr bỏ lại chiếc xe mô tô rồi chạy bộ đến cánh đồng thôn T, xã Đ, huyện K, t nh Hải Dương. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ng khi đến khu vực có nhiều người dân đang l m ruộng thuộc cánh đồng thôn T, Tr thấy bà Nguy n Thị Y, sinh n m 1968 trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện K, t nh Hải Dương đang đi bộ từ dưới ruộng lên đường bê tông, Tr đi đến hỏi bà Y lối ra đường cái. Bà Y ch đường cho Tr rồi đi về phía chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO màu xanh, biển số 34AA-069.89 của bà Y đang dựng trên đường bê tông (Bên cạnh đó còn dựng chiếc xe mô tô m u đỏ, biển số 34B2-883.19 của người dân đi l m ruộng). Tr nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của bà Y để tiếp tục bỏ chạ nên đã dùng ta phải lấy chiếc kéo trộm cắp của gia đình chị V để trong túi quần trước đó rồi đi đến phía sau lưng b Y, dùng tay trái túm giữ vai trái, tay phải cầm kéo dí đầu nhọn mũi kéo sát vào gáy bà Y nói: Cô đi cùng với cháu, cháu chỉ lấy xe thôi chứ Công an đuổi bắt đến đây bây giờ cháu chết, cô cũng chết. Bà Y sợ hãi đi về phía 02 chiếc xe mô tô đang dựng. Khi đi được khoảng 4 - 5 bước, do không biết xe nào là xe của bà Y nên Tr nói: Đưa nhanh chìa khóa xe máy đỏ cho cháu, không thì đưa chìa khóa xe xanh cũng được. Lúc này, cách vị trí dựng xe mô tô khoảng 02 mét, chìa khóa xe mô tô bà Yên vẫn để ở trong túi quần đang mặc nhưng không đưa cho Tr , Tr tiếp tục nói: Cô bảo ai đưa cháu cái chìa khóa đây. Bà Y liền hô to: Anh ơi, bảo cháu nhà em cầm chìa khóa xe ra đây, mục đích bà Y báo cho những người dân đang làm ruộng xung quanh biết việc bà Y đang bị Tr khống chế để đến cứu. Khi nghe thấy tiếng bà Y hô hoán, ông Nguy n V n D1, sinh n m 1961 và ông Phạm V n L, sinh n m 1974 đều ở cùng thôn với bà Y đang l m ruộng gần đó nhìn lên thấy bà Y đang bị Tr ôm giữ, dùng kéo dí vào cổ đồng thời đẩy bà Y đi đến vị trí 02 chiếc xe mô tô đang dựng trên đường, ông D1 v ông Lưu chạy lên chặn đường. Thấy vậy, Tr vòng tay phải về phía trước hướng mũi kéo về phía ngực bà Yên cách khoảng 15cm và nói: Đừng tiến đến đây. Lúc này, bà Y dùng hai tay giằng kéo ra khỏi tay Tr , Tr buông bà Y ra và bỏ chạ được khoảng 50 mét thì bị ông D1, ông L và bà Y đuổi theo bắt giữ. Sau đó quần chúng nhân đân đã báo công an xã Đ đến hiện trường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm quản lý chiếc xe mô tô biển số 34AA-069.89 và chiếc kéo do bà Y giao nộp.

Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kim Thành ngày 22/3/2021 kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE ALPHA, biển số 34B1-674.94 trị giá 4.000.000 đồng; 01 chiếc kéo kim loại dài 22,5cm trị giá 2.000 đồng; chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển số 34AA-069.89 trị giá 3.000.000 đồng.

Ngày 12/3/2021, sau khi bị trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE ALPHA, biển số 34B1-674.94, anh Lê Hồng Kh, sinh n m 1986 (Là chồng của chị Lê Thị Hải V) đi tìm kiếm và phát hiện thấy chiếc xe nằm dưới mương nước thuộc cánh đồng thôn Đ, xã Đ, anh Kh đã đem chiếc xe trên đến giao nộp cho công an xã Đ và trình báo sự việc. Hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày 12/3/2021, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại khu vực đất trống giáp cánh đồng thôn P, xã Đ có chiếc xe mô tô biển số 16P1-1318 không rõ chủ sở hữu, công an xã Đ đã tiến hành tạm quản lý chiếc xe trên. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành trả lại anh Kh chiếc xe mô tô biển số 34B1-674.94 và chiếc kéo kim loại dài 22.5cm; trả lại bà Nguy n Thị Y chiếc xe mô tô biển số 34AA-069.89; trả lại anh Nguy n Hoàng D chiếc xe mô tô biển số 16P1-1318. Những người bị hại không yêu cầu Tr phải bồi thường thiệt hại.

Quá trình điều tra Ngu n Xuân Tr đã khai nhận rõ h nh vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ lời khai của những người bị hại người l m chứng v các t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 04/8/2021 Viện Kiểm sát nhân dân hu ện Kim Th nh t nh Hải Dương tru tố Ngu n Xuân Tr về tội “Trộm cắp t i sản” theo qu định tại khoản 1 Điều 173 v tội “Cướp t i sản” theo qu định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như quá trình điều tra v xác định Viện kiểm sát nhân dân hu ện Kim Th nh t nh Hải Dương tru tố bị cáo về tội “Trộm cắp t i sản” theo qu định tại khoản 1 Điều 173 v tội “Cướp t i sản” theo qu định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự l đúng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Các bị hại đều vắng mặt nhưng đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa đã nhận lại to n bộ t i sản do bị cáo Tr chiếm đoạt các bị hại đều tự ngu ện không êu cầu bị cáo bồi thường bất cứ khoản n o v đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo theo qu định của Pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện Kim Th nh t nh Hải Dương giữ ngu ên quan điểm tru tố v đề nghị Hội đồng xét xử tu ên bố bị cáo Ngu n Xuân Tr phạm tội “Trộm cắp t i sản” v tội “Cướp t i sản”.

C n cứ khoản 1 Điều 173; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngu n Xuân Tr từ 12 đến 15 tháng tù về tội Trộm cắp t i sản từ 08 n m đến 08 n m 06 tháng tù về tội Cướp t i sản. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Tr phải chấp h nh hình phạt chung cho cả hai tội từ 09 n m đến 09 n m 09 tháng tù thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng bắt tạm giữ 12/3/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung l phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải qu ết.

Về án phí: C n cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí v lệ phí; Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ng 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu mi n giảm thu nộp quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về h nh vi qu ết định tố tụng của Điều tra viên Kiểm sát viên trong quá trình điều tra tru tố đã thực hiện đúng về thẩm qu ền trình tự thủ tục qu định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo bị hại xuất trình t i liệu chứng cứ phù hợp với qu định của pháp luật. Không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi qu ết định của người tiến h nh tố tụng. Do đó các h nh vi qu ết định tố tụng của người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và các chứng cứ xác định tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo bị hại tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người l m chứng v các t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ c n cứ xác định:

Khoảng 15 giờ ngày 12/3/2021, tại nhà chị Lê Thị Hải V sinh n m 1988 ở thôn P, xã Đ, huyện K, t nh Hải Dương lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, bị cáo Nguy n Xuân Tr đã trộm cắp của vợ chồng chị V chiếc xe mô nhãn hiệu WAVE ALPHA, biển số 34B1-674.94 trị giá 4.000.000 đồng và 01 chiếc kéo kim loại dài 22,5cm trị giá 2.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo Tr chiếm đoạt của vợ chồng chị Vân l 4.002.000 đồng.

Tiếp đến, khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/3/2021, tại khu vực cánh đồng thôn T, xã Đ, huyện K, t nh Hải Dương bị cáo Nguy n Xuân Tr có hành vi dùng chiếc kéo kim loại dài 22,5cm (Là hung khí nguy hiểm) dí đầu nhọn mũi kéo v o gá b Nguy n Thị Y sinh n m 1968 ở thôn T, xã Đ, huyện K, t nh Hải Dương đe dọa nhằm chiếm đoạt của bà Y chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển số 34AA-069.89 trị giá 3.000.000 đồng.

Bị cáo l người có đầ đủ n ng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ được h nh vi phạm tội của mình l ngu hiểm bị pháp luật cấm nhưng do không chịu lao động chân chính thích tiêu s i trên mồ hôi v công sức của người khác nên đã cố ý phạm tội.

Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 04/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân hu ện Kim Th nh t nh Hải Dương v lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện Kim Th nh t nh Hải Dương tại phiên tòa đã tru tố bị cáo về tội “Trộm cắp t i sản” theo qu định tại khoản 1 Điều 173 v tội “Cướp t i sản” theo qu định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự l đúng người đúng tội đúng pháp luật.

H nh vi phạm tội của bị cáo l ngu hiểm cho xã hội không những xâm phạm trực tiếp đến qu ền sở hữu về t i sản đe dọa trực tiếp đến sức khỏe tính mạng của bị hại m còn gâ mất trật tự trị an trong khu vực gâ hoang mang cho quần chúng nhân dân. Trong vụ án n bị cáo một mình thực hiện h nh vi trộm cắp t i sản là xe má v chiếc kéo, tổng trị giá 4.002.000đồng của vợ chồng chị Lê Thị Hải V và sử dụng chiếc kéo l hung khí ngu hiểm, dí đầu nhọn chiếc kéo vào gáy bà Y đe dọa nhằm cướp t i sản l chiếc xe má trị giá 3.000.000đồng của b Ngu n Thị Y. Vì vậ , Tòa án áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm đối với bị cáo và Qu ết định tổng hợp hình phạt trong Tr hợp phạm nhiều tội đối với bị cáo Tr theo qu định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục cải tạo đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo th nh khẩn khai nhận h nh vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” qu định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án. Tại bản án số 22/2016/HSST ngày 21/7/2016, Nguy n Xuân Tr bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án còn buộc Tr phải bồi thường thiệt hại cho những người bị hại và phải chịu án phí. Ngày 19/5/2017, Tr thi hành xong tiền án phí; ngày 18/7/2017, Tr chấp hành xong hình phạt tù của bản án; đến ngày 12/3/2021, bị cáo Tr chưa bồi thường thiệt hại cho những người bị hại. Bị cáo Tr phải chịu tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo qu định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo qu định tại khoản 5 Điều 173 v khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung quỹ Nh nước. Xét hoàn cảnh bị cáo không có việc l m v thu nhập nên không phạt bổ sung l phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều đã nhận lại đầ đủ t i sản bị Tr chiếm đoạt v đều không êu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo do vậ không phải xem xét giải qu ết.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành đã trả lại anh Kh chiếc xe mô tô biển số 34B1-674.94 và chiếc kéo kim loại; trả lại bà Nguy n Thị Y chiếc xe mô tô biển số 34AA-069.89; trả lại anh Nguy n Hoàng D chiếc xe mô tô biển số 16P1-1318, l phù hợp.

Về án phí: C n cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí v lệ phí; Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ng 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu mi n giảm thu nộp quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án. Bị cáo bị tu ên bố phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

1/ Về tội danh: Tu ên bố: Bị cáo Ngu n Xuân Tr phạm tội “Trộm cắp t i sản” v tội “Cướp t i sản”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngu n Xuân Tr 12 tháng tù về tội “Trộm cắp t i sản” 08 n m 06 tháng tù về tội “Cướp t i sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Ngu n Xuân Tr phải chấp h nh hình phạt chung cho cả hai tội l 09(Chín) n m 06(Sáu)tháng tù, thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng bắt tạm giữ 12/3/2021.

3/ Về án phí: C n cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí v lệ phí; Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ng 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí v lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngu n Xuân Tr phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.

4/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được qu ền kháng cáo trong hạn 15 ng kể từ ngày tuyên án. Bị hại được qu ền kháng cáo trong hạn 15 ng kể từ ng nhận được bản án hoặc bản án được niêm ết./.

Cỡ chữ