- Tranh chấp gì? án hình sự — "Rơ Lan Tương - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Rơ Lan T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HSST Ngày 23-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Chí Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Nga
Ông RChâm Đương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Tấn Lập – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST – HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo: Rơ Lan T, sinh năm 1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Làng A, xã Ia, huyện Ia G, tỉnh G; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: học lớp 01/12; dân tộc: Jrai; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Puih H và bà Rơ L; tiền sự, tiền án: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 30/8/2021 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Puih N, sinh năm 1991; trú tại Làng A, xã Ia, huyện Ia G, tỉnh G (vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Cao Văn S, sinh năm 1973; trú tại Làng D, xã Ia, huyện Ia G, tỉnh G (vắng mặt).
- Người phiên dịch: Anh Puih D (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 29/8/2021 Rơ Lan T đi bộ khu vực quanh làng A tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến nhà chị Puih N, T phát hiện phía trước hiên nhà chị N có để chiếc xe Sirius BKS 81U1-117.47 nên lại gần dùng chiếc kéo mà T đã lấy gần đó phá khóa xe. Sau khi phá khóa xong T nổ máy và điều khiển đến khu vực kho mủ cao su thuộc Đội 8, Công ty 715 để trộm mủ cao su. Khi vừa đến khu vực này thì bị bảo vệ phát hiện báo cho cơ quan chức năng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 62 ngày 01/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen bạc, BKS 81U1-117.47, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 30/8/2021 có giá 5.000.000đ.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe mô tô và 01 chiếc kéo, đồng thời trả lại cho chủ sở hữu là chị Puih N. Chị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 29/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Diễn biến tại phiên toà:
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng;
- Đại diện VKSND huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố vụ án Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 29/8/2021 tại Làng A bị cáo Rơ Lan T đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen bạc, BKS 81U1-117.47 của chị Puih N trị giá 5.000.000đ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là trái pháp luật. Hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự trên địa bàn. Do vậy bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa nhận thức pháp luật còn hạn chế nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s và điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt đồng thời cũng là để răn đe và phòng ngừa chung.
. Về án phí: Căn cứ vào Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quộc hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Rơ Lan T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Rơ Lan T 08(tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2021.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Rơ Lan T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Ia Grai; - Công an huyện Ia Grai; - Cơ quan THAHS; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - Lưu hồ sơ/VP. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Chí Công |