vanban.org

Bản án 47/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 04/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Quốc B và bị cáo Trần Hữu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Quốc B 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2020. Xử phạt bị cáo Trần Hữu Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Quốc B và đp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Quốc B và bị cáo Trần Hữu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 47/2021/HS-ST
Ngày: 04 - 3 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trƣơng Văn Sinh.

2/ Bà Nguyễn Ngọc Hồng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn - Thƣ ký của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.

Vào ngày 04 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2021/TLST- HS ngày 20 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 47/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Dƣơng Quốc B, sinh năm 1998 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cƣ trú: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Anh K, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2020 cho đến nay, có mặt.

2. Trần Hữu Đ, sinh năm 1994 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cƣ trú: Xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu T, sinh năm 1964 và bà Lê Thị H, sinh năm 1964; tiền án: 01 (một), năm 2019 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 04 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 218/2019/HS-ST ngày 17/9/2019, chấp hành xong hình phạt vào ngày 28/4/2020; tiền sự: không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2020 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Tạ Văn H, sinh năm 1992; nơi cƣ trú: khu phố Đ, phƣờng T, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Trần Thanh T, sinh năm 1985; Nơi cƣ trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1992; HKTT: Xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cƣ trú: Cửa hàng xe máy L, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

3. Công ty TNHH MTV Dịch vụ bảo vệ N; trụ sở: Khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Lê Huy C, sinh năm 1974; nơi cƣ trú: Khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng - Là ngƣời đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 04/3/2021), có mặt.

4. Công ty Cổ phần G; trụ sở: khu phố Q, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1977; nơi cƣ trú: phƣờng T, Quận T, thành phố Đà Nẵng - Là ngƣời đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 01/3/2021), có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn P (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bản thân Dƣơng Quốc B là công nhân đang làm việc tại Công ty TNHH G, thuộc khu phố Đ, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Do cần tiền để giải quyết công việc cá nhân nên B đã nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của công nhân khác để trong công ty. Thực hiện ý định trên, vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 27/9/2020, B gọi điện rủ Trần Hữu Đ cùng tham gia thì Đ đồng ý, Đ rủ thêm đối tƣợng H, D là bạn của Đ (tất cả đều không xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ) cùng tham gia. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày 28/9/2020, theo kế hoạch B điều khiển xe mô tô kiểu dáng Exciter, biển số: 85D1-470.95 đi đến đoạn đƣờng cách Công ty TNHH G khoảng 200 mét thì gặp Đ đi cùng với H, D đang đứng đợi tại đây. Lúc này, B điều khiển xe mô tô biển số 85D1-470.95 đi đến vào phòng bảo vệ gặp ông Nguyễn Văn P là bảo vệ của Công ty TNHH G đang trực gác để nói chuyện nhằm đánh lạc hƣớng sự chú ý của ông P. Lúc này ở ngoài, Đ cùng H, D lén lút đi vào bãi giữ xe của công ty rồi H dùng cây đoản mang theo bẻ ổ khóa nguồn điện của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Exciter, biển số: 61E1-596.43 của ông Tạ Văn H là công nhân của công ty đang làm ca đêm trong công ty. Sau khi bẻ khóa nguồn điện xong thì Đ cùng D dắt xe ra ngoài và tẩu thoát khỏi hiện trƣờng.

Lúc này, B quan sát thấy Đ cùng đồng bọn đã chiếm đoạt đƣợc xe mô tô kiểu dáng Exciter, biển số: 61E1-596.43, thì B đi ra lấy xe mô tô biển số 85D1-470.95 của mình đi về phòng trọ ngủ. Đến 07 giờ 00 phút sáng ngày 28/9/2020, B đi đến công ty làm việc nhƣ bình thƣờng thì bị công ty mời lên làm việc. Riêng Đ sau khi chiếm đoạt đƣợc chiếc xe mô tô trên thì Đ giao xe cho đối tƣợng H, D mang đi bán đƣợc 9.000.000 đồng nhƣng Đ không biết bán ở đâu và cũng chƣa nhận đƣợc tiền chia đến ngày 05/10/2020, Đ đến Công an thành phố T đầu thú hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh (kiểu dáng Exciter), nhãn hiệu YAMAHA, số loại: Exciter – 55P1, đề dung tích xi lanh 135 cm3; biển kiểm soát 85D1 – 47095; số khung nguyên thủy: RLCE55P10DY209817; số máy nguyên thủy: 55P1-209830.

Kết luận định giá tài sản ngày 07/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 61E1 – 59643; số loại Exciter 150; số máy: G3D4E361181; số khung: 0610GY344074 trị giá 38.000.000đồng (Ba mƣơi tám triệu đồng).

Bản Cáo trạng số 51/CT-VKS-TA ngày 21 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Dƣơng Quốc B và Trần Hữu Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xác định:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dƣơng Quốc B phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Trần Hữu Đ phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo B phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Đ sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cao B đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; bị cáo Đ đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Dƣơng Quốc B mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù; bị cáo Trần Hữu Đ mức hình phạt từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển số 85D1-470.95 là phƣơng tiện bị cáo B sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc.

Đối với chiếc xe tô biển số 61E1-596.43, qua điều tra xác định ông Từ Văn H là chủ sở hữu xe mô tô trên. Quá trình điều tra xác định sau khi chiếm đoạt đƣợc xe các đối tƣợng H và D đã đem đi tiêu thụ, hiện Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm vật chứng đối với chiếc xe mô tô biển số 61E1-596.43 nhƣng đến nay chƣa thu hồi đƣợc, ông Từ Văn H yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa các bị cáo tự nguyện nhận trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại số tiền 38.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thƣờng số tiền 19.000.000 đồng, bị hại đồng ý việc các bị cáo bồi thƣờng số tiền nhƣ trên và không có yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và bị hại.

Đối với các đối tƣợng tên H và D là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, qua điều tra Đ khai nhận là bạn bè ngoài xã hội, không xác định rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chƣa đủ căn cứ để xử lý, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, truy tìm sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Đối với ông Nguyễn Văn P, quá trình điều tra xác định tại thời điểm mất trộm xe mô tô trên ông P là nhân viên Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ N đƣợc phân công trực, ông P không biết và B cũng không nói cho ông P biết việc B cùng đồng phạm đang thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý vai trò đồng phạm là có căn cứ.

- Bị hại ông Từ Văn H trình bày: Thống nhất với lời khai nhận tội của các bị cáo và việc Viện kiểm sát truy tố các bị cáo. Thống nhất việc các bị cáo tự nguyện nhận trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại số tiền 38.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thƣờng số tiền 19.000.000 đồng, ông H xác định không có ý kiến gì khác và không còn yêu cầu nào khác trong vụ án.

- Ngƣời đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Dịch vụ bảo vệ N trình bày: Giữ nguyên các ý kiến đã trình bày tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm ý kiến gì khác, không có yêu cầu gì trong vụ án.

- Ngƣời đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần G trình bày: Giữ nguyên các ý kiến đã trình bày tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm ý kiến gì khác, không có yêu cầu gì trong vụ án.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo ăn năn, hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để đƣợc sớm trở về với gia đình, làm ngƣời công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Dƣơng Quốc B và Trần Hữu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố trƣớc Tòa. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày 28/9/2020, Công ty TNHH G, thuộc khu phố Đ, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, các bị cáo Dƣơng Quốc B và Trần Hữu Đ cùng các đối tƣợng H, D có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 61E1 – 59643; số loại Exciter 150 trị giá 38.000.000đồng (Ba mƣơi tám triệu đồng) của bị hại Từ Văn H.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo có sự bàn bạc, chuẩn bị và có sự phân công cụ thể. Trong vụ án này, bị cáo Đ cùng các đối tƣợng H, D là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Dƣơng Quốc B là ngƣời chủ mƣu, rủ rê, tích cực tạo điều kiện cho các đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, vai trò của bị cáo B cao hơn bị cáo Đ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dƣơng Quốc B phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Trần Hữu Đ đã bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 04 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 218/2019/HS-ST ngày 17/9/2019, chấp hành xong hình phạt vào ngày 28/4/2020, chƣa đƣợc xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trƣờng hợp Tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo Dƣơng Quốc B phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Trần Hữu Đ sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Do đó, bị cáo B đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; bị cáo Đ đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh (kiểu dáng Exciter), nhãn hiệu YAMAHA, số loại: Exciter – 55P1, đề dung tích xi lanh 135 cm3; biển kiểm soát 85D1 – 47095; số khung nguyên thủy: RLCE55P10DY209817; số máy nguyên thủy: 55P1-209830, quá trình điều tra xác định: Xe trên do ông Trần Thanh T là ngƣời đứng tên chủ sở hữu, ông T khai nhận vào khoảng tháng 12/2018 ông T đã bán chiếc xe này cho ông Nguyễn Trọng T là chủ cửa hàng xe máy L tại địa chỉ đƣờng N, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Sau đó vào khoảng tháng 6/2020 ông T bán chiếc xe này cho bị cáo B với giá 18.500.000 đồng nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên. Ông Trần Thanh T không có yêu cầu gì đối với chiếc xe trên. Xét thấy, đây là phƣơng tiện bị cáo B sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc.

- Đối với chiếc xe tô biển số 61E1-596.43 mà các bị cáo chiếm đoạt, qua điều tra xác định ông Từ Văn H là chủ sở hữu xe mô tô trên, hiện nay xe chƣa thu hồi đƣợc, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa các bị cáo tự nguyện nhận trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại số tiền 38.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thƣờng số tiền 19.000.000 đồng, bị hại đồng ý việc các bị cáo bồi thƣờng nhƣ trên và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và bị hại.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo bồi thƣờng nên không xem xét.

Đối với đối tƣợng tên H, D là ngƣời trực tiếp cùng bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên sẽ xử lý ở một vụ án khác khi có căn cứ.

Đối với ông Nguyễn Văn P, quá trình điều tra xác định tại thời điểm mất trộm xe mô tô trên ông P là nhân viên Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ N đƣợc phân công trực, ông P không biết và B cũng không nói cho ông P biết việc B cùng đồng phạm đang thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý vai trò đồng phạm là có căn cứ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dƣơng Quốc B.

- Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Hữu Đ.

- Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Các Điều 288, 584, 585, 586, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Quốc B và bị cáo Trần Hữu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Quốc B 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2020.

Xử phạt bị cáo Trần Hữu Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Dƣơng Quốc B và bị cáo Trần Hữu Đ có trách nhiệm liên đới bồi thƣờng cho bị hại ông Tạ Văn H số tiền 38.000.000 đồng (Ba mƣơi tám triệu đồng), trong đó phần của mỗi bị cáo là 19.000.000 đồng (Mƣời chín triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trƣờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh (kiểu dáng Exciter), nhãn hiệu YAMAHA, số loại: Exciter – 55P1, đề dung tích xi lanh 135cm3; biển kiểm soát 85D1 – 47095; số khung nguyên thủy: RLCE55P10DY209817; số máy nguyên thủy: 55P1-209830.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/01/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 950.000 đồng (Chín trăm năm mƣơi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ