- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRần Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố t ng h nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HS-ST Ngày 05-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Liệt
Ông Đặng Ngọc Thương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2021, tại tr s Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu t sơ thẩm công khai v án h nh sự sơ thẩm th lý số 32/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa v án ra t
số 30/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2021, đối v i bị cáo:
Trần Thanh T (Tên gọi khác: H), sinh năm 1987, tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi khi bị bắt: 5 đường N, phường B, TP.V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; tr nh độ văn hoá: 7/12; gi i tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố: Trần Văn T và mẹ: Trần Kim L; vợ: Nguyễn Thanh V và có 01 con sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 225/QĐ- TA, ngày 05-8-2019 Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu áp d ng biện pháp x lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc 18 tháng; nhân thân: Năm 2013 và 2016 bị áp d ng biện pháp x lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc 18 tháng; bị bắt, tạm giam 11-12-2020, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu. (Có mặt).
Bị hại: Ông Lê Hoàng D, sinh năm: 1976, địa chỉ: 5 đường N, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có đơn in t vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 12-11-2020, bị cáo Trần Thanh T đi lang thang dọc theo hẻm 5 đường N, phường B, thành phố Vũng Tàu, m c đích t m người nào sơ h tài sản để trộm cắp. Khi đi đến trư c nhà 5 đường N, bị cáo phát hiện 01 xe mô tôhiệu SYM BOSS, biển số 72N3 – 2134 của anh Lê Hoàng D, sinh năm: 1976 đang dựng đối diện trư c c a nhà, trên e đang cắm chìa khóa. Quan sát xung quang không có người qua lại, không có người trông giữ nên bị cáo đã l n lút lấy trộm chiếc xe máy trên rồi điều khiển xe tẩu thoát. Khi điều khiển xe chạy đến phường Kim Dinh, thành phố Bà Rịa thì xe hết ăng, do sợ bị phát hiện, bị cáo đã bỏ xe lại rồi đi bộ thì bị tổ tuần tra Công an phường Kim Dinh phát hiện khả nghi nên đã đưa về tr s làm việc.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số: 268/KL-HĐĐG-TTHS ngày 15-12-2020 kết luận: Giá trị còn lại của chiếc e máy nhãn hiệu 01 xe mô tô hiệu SYM BOSS, biển số 72N3 – 2134 là 3.000.000đồng (ba triệu đồng).
Tại cơ quan Công an, bị cáo Trần Thanh Tâm đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và x lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô hiệu SYM BOSS, BKS: 72N3 – 2134 màu nâu. Số khung: 10AH0.26864, Số máy: MSB AH0.26 6 của anh Lê Hoàng D. Cơ quan CSĐT Công an TP.Vũng Tàu đã ra Quyết định x lý vật chứng trả lại cho anh D;
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Hoàng D đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường.
Bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 16-02-2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Thanh T đã khai nhận về toàn bộ hành vi của m nh, tỏ ra ăn năn, hối cải và in được giảm nhẹ h nh phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối v i bị cáo Trần Thanh T, về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng t áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 3 Bộ luật h nh sự, phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr nh tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo v i lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ v án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng t có đủ cơ s để ác định:
Khoảng 16giờ 00phút ngày 12-11-2020, tại địa chỉ 52 đường N, phường B, thành phố Vũng Tàu, bị cáo Trần Thanh T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 e máy nhãn hiệu SYM BOSS, biển số 72N3 – 2134 của anh Lê Hoàng D, trị giá chiếc xe là 3.00.000đồng (ba triệu đồng). Hành vi bị cáo Trần Thanh T đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi của bị cáo: X t tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho ã hội, đã trực tiếp âm hại đến quyền s hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; ảnh hư ng ấu đến an ninh trật tự tại địa phương và ã hội; bị cáo là người đã trư ng thành, biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm m c đích có tiền tiêu ài cá nhân; bị cáo có nhân than ấu. V vậy, cần phải lý nghiêm, áp d ng mức h nh phạt tù có thời hạn tương ứng v i tính chất, mức độ nguy hiểm đối v i hành vi phạm tội của bị cáo.
[ ] Về t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự:
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại in giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự cho bị cáo là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 3 Bộ luật H nh sự.
X phạt: Bị cáo Trần Thanh T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 11 tháng 12 năm 2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên không xem xét.
3. Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí h nh sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu t theo thủ t c phúc thẩm. Bị hại vắng mặt, thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV27); - S Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND Tp.Vũng Tàu; - Công An Tp.Vũng Tàu; - Chi c c THADS Tp.Vũng Tàu; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ v án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Kiên |