vanban.org

Bản án 47/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 22/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc H phạm tội “Tàng trữ tiền giả”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo Nguyễn Đắc H cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đắc H - phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (điều 207 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc H phạm tội “Tàng trữ tiền giả”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2021/HS-ST
Ngày: 22-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Anh Quế - Cán bộ hội phụ nữ tỉnh Nam Định

Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Giáo viên nghỉ hưu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thanh Hải - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2021/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đắc H, sinh ngày 29-4-2003; nơi sinh và cư trú: Thôn Tr, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội; nghề ngH: Tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đắc Kh, sinh năm 1972 và bà Lưu Thị Ph, sinh năm 1977; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bà Nguyễn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định (Có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Đắc Kh, sinh năm 1972 (Là bố đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn Tr, xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội (Có mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn T (Vắng mặt).

2. Chị Vũ Thị Nh (Vắng mặt).

3. Anh Nguyễn Minh Q (Vắng mặt).

4. Ông Đỗ Trọng Ch (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 04-2020, do khó khăn về kinh tế, Nguyễn Đắc H đã nảy sinh ý định mua tiền giả mang đi lưu hành đổi lấy tiền thật để tiêu sài cá nhân, Quá trình tham gia mạng xã hội, Nguyễn Đắc H làm quen với người sử dụng tài khoản Facebook “Nguyễn Minh Quang” tên thật là Nguyễn Minh Q, sinh năm 2003, trú tại thôn H, xã Gến, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Biết H có ý định mua tiền giả, Quang đã giới thiệu tài khoản Facebook “Song Long Tài Chính” có bán tiền giả, H sử dụng tài khoản Facebook “Nguyễn Đắc H” nhắn tin với tài khoản Facebook “Song Long Tài Chính” của Nguyễn Văn T, Vũ Thị Nhđặt mua 3.000.000đ tiền giả, loại mệnh giá 500.000đ, theo tỷ lệ 1:6 (một triệu tiền thật đổi được 6.000.000đ tiền giả). Nguyễn Văn Tvà Vũ Thị Nhnhất trí và thông báo phương thức giao dịch là tiền giả sẽ được giấu trong hộp bưu kiện chuyển theo đường bưu điện thông qua dịch vụ thu tiền hộ COD đến địa chỉ của H. H không cần phải đặt cọc tiền trước nhưng không được kiểm tra bưu kiện trước khi thanh toán. T, Nh gửi cho H xem video hướng dẫn chỗ giấu tiền giả trong bưu kiện. H đồng ý và cung cấp thông tin người nhận tiền giả là Nguyễn Đắc H, địa chỉ: Thôn Đ, xã Hoa Sơn, huyện U, Hà Nội, SĐT: 0334.851.512. Ngày 11-4-2020, H nhận được bưu kiện có mã vận đơn EG424102963VN và thanh toán 540.000đ cho nhân viên phát bưu kiện là ông Đỗ Trọng Ch, sinh năm 1973, là người cùng thôn với H. Mở bưu kiện, H thấy bên trong có 01 lọ nhựa đựng chất lỏng và 06 tờ tiền giả, loại mệnh giá 500.000đ được cất giấu tại vị trí như T, Nh đã hướng dẫn. Kiểm tra, H thấy các tờ tiền giả có màu đậm, dày hơn tiền thật. H đã mang về cất giấu số tiền giả này trong túi bóng đen để dưới gầm giường trong phòng ngủ của mình. Do sợ mang đi tiêu thụ sẽ bị phát hiện nên khoảng 02 ngày sau khi mua được tiền giả H đã vò nát và vứt bỏ toàn bộ số tiền giả này vào thùng rác.

Trong vụ án này còn liên quan đến các đối tượng Nguyễn Văn T, Vũ Thị Nh, Nguyễn Minh Q đã được xét xử trong vụ án khác.

Đối với 01 lọ mực đựng chất lỏng và 06 tờ tiền giả mệnh giá 500.000đ, Nguyễn Đắc H khai nhận sau khi sợ không tiêu thụ được và lo bị phát hiện nên đã vất bỏ đi, Cơ quan an ninh điều tra không thu giữ được.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Đắc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 21/Ctr-VKS-P1 ngày 15-03- 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố Nguyễn Đắc H về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả” theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).

Tại phiên toà: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 207; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả ” và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí khung khoản Điều luật áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó có căn cứ xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ kết luận: Tháng 4-2020 Nguyễn Đắc H có hành vi mua của Nguyễn Văn T và Vũ Thị Nh 3.000.000 đồng tiền giả loại mệnh giá 500.000 đồng, mang về nhà cất giấu mục đích để tiêu sài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý tài chính, tiền tệ của Nhà nước, gây tác hại lớn đến việc lưu thông tiền tệ trong thị trường, gây bất ổn cho nền kinh tế và gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận tiền giả nhưng chưa mang đi sử dụng, lưu hành. Như vậy, hành vi của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ tiền giả” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 207 BLHS. Nên, quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái nhưng vì hám lợi đã cố ý phạm tội, với số tiền giả có giá trị thực tế là 3.000.000 đồng đã phạm vào khoản 1 Điều 207 BLHS. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm, nhằm mục đích trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, khi phạm tội bị cáo chưa tròn 17 tuổi. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Do bị cáo là người dưới 18 tuổi, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đối chiếu với các tiêu chuẩn điều kiện theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thấy có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, cũng đủ sức răn đe giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, thể hiện bản chất nhân đạo, khoan hồng của pháp luật và chính sách hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên không phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại Điều 91 BLHS.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 65, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc H phạm tội “Tàng trữ tiền giả”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao bị cáo Nguyễn Đắc H cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện U, Thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Đắc H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Bị cáo Nguyễn Đắc H không phải chịu hình phạt bổ sung.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Đắc H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ