- Tranh chấp gì? án hình sự — "47 - 2021 Nguyễn Trung H - CYGTT K1 . 134 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Trung H 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời h n tù tính từ ngày 15/10/2020.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HS-ST Ngày: 10–3–2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Danh Cư.
2/ Bà Nguyễn Thị Kính.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Duy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 3 năm 2021, t i tr s Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 246/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 10/2021/QĐXXST-HS, ngày 15/01/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2021/HSST-QĐ, ngày 29/01/2021, Quyết định đưa v án ra xét xử số 43/2021/QĐXXST - HS, ngày 01/02/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2021/HSST-QĐ, ngày 26/02/2021 và theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 47/2021/QĐXXST - HS, ngày 26/02/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung H, sinh năm: 1990 t i Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (HKTT: Số 952 lầu 4 chung cư T.H.Đ, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ : Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M nh H và bà Lê Thị Tuyết M; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; Tiền sự: T i Quyết định số 98/2018/QĐ-TA ngày 05/10/2018, Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện ma túy bắt buộc, với thời h n 18 tháng; đến ngày 05/02/2020 chấp hành xong quyết định. Nhân thân: Năm 2008 đến 2009 đi cai nghiện ma túy tự nguyện t i Cơ s xã hội Nhị Xuân, huyện Hóc môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 6/2009 đến tháng 12/2009 đi cai nghiện ma túy tự nguyện t i cơ s cai nghiện ma túy Phước Bình, tỉnh Đồng Nai. T i Quyết định số 410/QĐ-UBND ngày 19/01/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào Cơ s chữa bệnh, thời h n 24 tháng, t i Trung tâm Giáo d c nghề Thanh Thiếu Niên 2 vì sử d ng chất ma túy; ngày 08/01/2014 chấp hành xong quyết định. T i Quyết định số 93/QĐ-UBND ngày 07/11/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp d ng biện pháp quản lý sau cai nghiện, thời h n 24 tháng, kể từ ngày 08/01/2014. T i bản án số 72/2015/HSST ngày 13/5/2015, Tòa án nhân dân Quận 5,Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 19/9/2017. T i Quyết định số 459/2020/QĐ-TA ngày 08/9/2020, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện ma túy bắt buộc với thời h n 18 tháng. Sau đó Nguyễn Trung H khiếu n i Quyết định và xin giảm thời gian cai nghiện bắt buộc. T i Quyết định số 343/2020/QĐ-TA ngày 14/10/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định hủy Quyết định trên của của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh và đình chỉ việc xem xét, áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung H (lí do: t i phiên họp, Cơ quan đề nghị rút đề nghị áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung H). Bị cáo bị bắt t m giam từ ngày 15/10/2020. (Có mặt).
- Bị hại: Anh Đặng Đức T, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Số 284/26 C.B, phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh). (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Nhiễu Đ quen biết và chung sống với nhau như vợ chồng t i số 1A/1A H.P, phường T, Quận T. Khoảng 03 giờ, ngày 25/5/2020 khi Đ, C đang ngủ thì anh Đặng Đức T đến gõ cửa hỏi Đ về việc anh T bị mất trộm con chó, Đ trả lời không biết. Khoảng 13 giờ, ngày 25/5/2020 chị Đ và anh T tiếp t c cãi vã, chửi nhau về việc mất con chó; nên Đ nhắn tin điện tho i cho Nguyễn Trung H (b n Đ) kể l i sự việc cãi nhau với T và nói H đến gặp T nói chuyện, đồng thời Đ nói C đến đón H thì C đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 67E1-409.45 đến ch H t i ngã ba đường T.H.Đ – A.B, Quận N. Khi đi C mang theo 01 con dao lấy t i phòng của H, H cầm theo 01 bao vợt bên trong có 01 cây mã tấu. Sau đó C ch H đến quán cà phê đối diện t i trước số 1A/1A H.P, phường T, Quận T thì thấy anh Đặng Đức T đang ngồi uống cà phê (anh Đặng Đức T là b n của anh Đổng Chí Th) nên C dừng xe bước xuống xông vào lấy dao ra đe dọa và chỉ vào anh Th, còn H lấy cây mã tấu chém anh Đặng Đức T vào tay phải gây thương tích, anh Th tri hô, C lên xe ch H mang theo hung khí tẩu thoát. Anh T được đưa vào bệnh viện băng bó vết thương. Sau đó, đến Công an Phường 8, Quận 8 trình báo sự việc. Công an Phường xuống hiện trường ghi nhận sự việc, nhưng không thu giữ được vật chứng. Sau đó hồ sơ được chuyễn đến Cơ quan điều tra Công an Quận 8 xử lý.
T i bản kết luận giám định pháp y số 591 ngày 13/7/2020 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: anh Đặng Đức T:
Vết thương t i mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay trái đứt cơ tam đầu, mẻ xương cánh tay, đã được điều trị phẫu thuật m rộng vết thương, khâu cơ, khâu vết thương, hiện còn:
+ Vết sẹo chém và mổ kích thước 18,5x(0,1-0,4)cm (ảnh 1,2);
+ Hình ảnh mẻ xương trên phim Xquang (ảnh 3);
+ Cơ tam đầu cánh tay hồi ph c tốt, vận động không h n chế;
Tỷ lệ thương tích gây nên hiện t i là 06%.
Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.
Thương tích trên không gây nguy hiểm đến tính m ng đương sự.
Sau khi có kết quả giám định tỷ lệ thương tật, bị h i Đặng Đức T yêu cầu giám định l i thương tích. T i bản kết luận giám định pháp y số 4164 ngày 03/9/2020 của Phân viện khoa học hình sự t i Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Viện khoa học hình sự kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Đặng Đức T là 06%.
Ngày 14/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 kh i tố v án, kh i tố bị can và ngày 15/10/2020 bắt t m giam đối với Nguyễn Trung H về tội “Cố ý gây thương tích”.
T i Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Nguyễn Trung H khai nhận hành vi ph m tội như trên và phù hợp với lời khai bị h i, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ v án.
Trách nhiệm dân sự: T i Cơ quan điều tra, anh Đặng Đức T yêu cầu bồi thường 67.000.000 đồng; t i phiên tòa, anh Đặng Đức T yêu cầu bồi thường 60.000.000 đồng.
Vật chứng: Xe mô tô biển số 67E1-409.45, qua xác minh do anh Ph m Hoài N đứng tên đăng ký. Ngày 23/5/2020, anh N cho C mượn xe, sau đó C dùng làm phương tiện ch H thực hiện hành vi ph m tội, nhưng anh N không biết; nên Cơ quan điều tra đã lập biên bản trao trả cho chủ s hữu.
Đối với Nguyễn Văn C có dấu hiệu đồng ph m trong v án, nhưng hiện nay vắng mặt t i địa phương và không xác định được nơi cư trú của C; nên Cơ quan điều tra Công an Quận 8 tiếp t c truy xét và xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thị Nhiễu Đ chỉ nhờ H đến nói chuyện với anh Đặng Đức T về việc Đ không có bắt trộm con chó của anh T và không liên quan đến việc H gây thương tích cho anh Đặng Đức T; nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Bản cáo tr ng số 13/CT-VKS-Q8 ngày 21/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, điểm i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* T i phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp d ng điểm a, điểm i Khoản 1 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử ph t bị cáo Nguyễn Trung H mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: T i phiên tòa, bị h i và bị cáo đã thống nhất số tiền bồi thường, nhưng không thống nhất được phương thức và thời gian thực hiện bồi thường; nên bị cáo Nguyễn Trung H phải có trách nhiệm thực hiện bồi thường cho bị h i một lần số tiền 60.000.000 đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật t i Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về vật chứng: Hung khí liên quan v án do không thu hồi được, nên không xem xét xử lý. Đối với xe mô tô biển số 67E1-409.45, Cơ quan điều tra đã trả l i cho chủ s hữu hợp pháp.
* Bị h i anh Đặng Đức T trình bày lời buộc tội đối với bị cáo Nguyễn Trung H như sau: Bị cáo Nguyễn Trung H đã vô cớ dùng mã tấu tấn công gây thương tích cho tôi, mặc dù giữa tôi và bị cáo không có mâu thuẫn gì trước đó. Tôi yêu cầu xử lý hình bị cáo theo quy định pháp luật. Ngoài ra, tôi yêu cầu bị cáo bồi thường một lần số tiền liên quan đến việc gây ra thương tích cho tôi là 60.000.000 đồng, bồi thường sau khi bản án của Tòa xét xử được thi hành. Tôi thống nhất với việc truy tố, luận tội và mức án mà đ i diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Trung H.
* Bị cáo Nguyễn Trung H thống nhất với Cáo tr ng truy tố, lời buộc tội của bị h i và không tranh luận, không bào chữa; chỉ xin giảm nhẹ hình ph t để sớm về với gia đình. Về phần bồi thường dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 60.000.000 đồng theo yêu cầu của bị h i, nhưng xin trả dần, sau khi bị cáo thi hành án tù về sẽ đi làm kiếm tiền trả cho anh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, của người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
T i phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung H đã khai nhận toàn bộ hành vi dùng hung khí (mã tấu) tấn công gây ra thương tích cho bị h i anh Đặng Đức T, vào khoảng hơn 13 giờ, ngày 25/5/2020, t i trước quán cà phê (đối diện số 1A/1A H.P, phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh). H quả gây nên thương tích cho anh Đặng Đức T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án và phù hợp với nội dung bản cáo tr ng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Mặc dù bị cáo H tấn công gây thương tích cho bị h i T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%, nhưng bị cáo đã sử d ng 01 (một) cây dao mã tấu, lưỡi bằng kim lo i màu trắng, dài khoảng 40cm (bị cáo chuẩn bị sẵn trước đó và cất giấu trong bao vợt đeo bên người) bất ngờ tấn công gây ra thương tích cho bị h i; nên được xác định là dùng hung khí nguy hiểm. Đây là tình tiết được quy định t i điểm a Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo đã vô cớ gây ra thương tích cho bị h i mặc dù giữa hai bên chưa từng xảy ra mâu thuẫn; qua đó cho thấy cách hành xử của bị cáo mang tính b o lực, xem thường tính m ng, sức khỏe của người khác, thái độ xem thường pháp luật và thể hiện bản chất côn đồ. Đây là tình tiết được quy định t i điểm i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó, đã có đủ cơ s để kết luận: Bị cáo Nguyễn Trung H đã ph m vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm a, điểm i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có quá trình nhân xấu (bản thân còn tiền sự chưa được xóa, là người nghiện ma túy trong thời gian dài, đã từng bị Tòa án xét xử), nhưng không chịu sửa chữa lỗi lầm, tu dưỡng, rèn luyện và phấn đấu thành người sống có ích cho xã hội mà l i tiếp t c thự hiện hành vi ph m tội với lỗi cố ý, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần phải lưu ý khi quyết định hình ph t đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T i Cơ quan điều tra và t i phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về lỗi lầm đã gây ra. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định t i điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình ph t mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Cáo tr ng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Nguyễn Trung H là có cơ s pháp luật, đúng người, đúng tội, mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ ph m tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Lời trình bày buộc tội của bị h i đối với bị cáo Nguyễn Trung H là có cơ s pháp luật như Hội đồng xét xử đã phân tích như trên; nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: T i phiên tòa, bị h i anh Đặng Đức T yêu cầu bị cáo H bồi thường do sức khỏe bị xâm ph m, với tổng số tiền là 60.000.000 đồng. Bị cáo H đồng ý bồi thường thiệt h i (do sức khỏe bị xâm ph m) cho bị h i anh Đặng Đức T theo yêu cầu của anh T. Tuy nhiên, giữa bị cáo và bị h i không thống nhất được phương thức và thời gian thực hiện bồi thường; nên bị cáo phải có trách nhiệm thực hiện bồi thường cho bị h i một lần số tiền nêu trên, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, t i Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Về vật chứng:
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 67E1-409.45, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã trả l i cho chủ s hữu hợp pháp là phù hợp theo quy định của pháp luật.
- Đối với cây mã tấu mà bị cáo H sử d ng tấn công bị h i T và con dao mà C lấy t i nhà H và dùng đe dọa bị h i T, Cơ quan điều tra không thu hồi được; nên không có cơ s xem xét để xử lý.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn C có dấu hiệu đồng ph m trong v án, nhưng hiện nay vắng mặt t i địa phương và không xác định được nơi cư trú của C; nên Cơ quan điều tra Công an Quận 8 đang tiếp t c điều tra truy xét và xử lý sau. Đối với Nguyễn Thị Nhiễu Đ chỉ nhờ H đến nói chuyện với anh Đặng Đức T về việc Đ không có bắt trộm con chó của anh T và không liên quan đến việc H gây thương tích cho anh Đặng Đức T; nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a, điểm i Khoản 1 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Trung H 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời h n tù tính từ ngày 15/10/2020.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều: 584, 585, 586, 587, 590, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cùng Luật Thi hành án Dân sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Trung H bồi thường thiệt h i do sức khỏe bị xâm ph m cho anh Đặng Đức T, với số tiền là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
Thi hành việc bồi thường một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, t i Chi c c Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Thi hành t i Chi c c Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải bồi thường do sức khỏe bị xâm ph m cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều: 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo, bị h i có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - PC.53 CA TP.HCM; - S Tư pháp TP.HCM; - VKSND Q.8; - Chi c c THADS Q.8; - CQĐT CAQ.8; - CQTHAHS Q.8; NTG CAQ.8; - Bị cáo; - Người tham gia tố t ng khác; - Lưu: VT, hồ sơ v án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Trúc |