- Tranh chấp gì? án hình sự — "BVP - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu hủy một con dao dài 27 cm, tay cầm bọc nhựa màu đen.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HS-ST Ngày 22-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Toàn;
Ông Trần Ngọc Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2021/TLST-HS, ngày 29 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. BVP, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1990 tại Hải Phòng; ĐKNKTT và trú tại: Thôn A, xã B, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D và bà E; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25-02-2021, tạm giam từ ngày 03-3-2021; có mặt.
2. BVD, sinh ngày 04 tháng 7 năm 1991 tại Hải Dương; ĐKNKTT và trú tại: Thôn F, xóm G, xã H, huyện I, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông J (đã chết) và bà NLQ; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25-02-2021, tạm giam từ ngày 03-3-2021; có mặt.
- Bị hại: Bà BH; địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện I, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà NLQ; địa chỉ: Thôn F, xóm G, xã H, huyện I, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Anh NLC1, anh NLC2, anh NLC3 và anh NLC4; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 25-02-2021 BVD điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 642.68 chở BVP đi trên tuyến đường L, I sang nội thành Hải Phòng với mục đích tìm kiếm nếu có ai sở hở về tài sản sẽ tìm cách chiếm đoạt. Khi đi BVD mang theo một con dao nhọn dài 27 cm (phần cán dao dài 11 cm và phần lưỡi dài 16 cm). Khi cả hai đi đến ngã ba M - L thì BVD nhìn thấy chị BH (địa chỉ: L, I, Hải Phòng) đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 15G1 - 562.42 đi cùng chiều phía trước, ở túi quần phía trước bên phải của chị BH có một tập tiền loại 500.000 (năm trăm nghìn) đồng nên đã bảo BVD điều khiển xe đi theo để tìm cơ hội lấy tài sản. BVD đồng ý và điều khiển xe đi theo chị BH, khi đến cầu N (thuộc phường O, P, Hải Phòng) BVD điều khiển xe áp sát bên phải xe của chị BH, còn BVP ngồi sau dùng tay trái lấy tập tiền trong túi quần của chị BH và bảo BVD điều khiển xe bỏ chạy. Chị BH truy hô và cùng một số người dân đuổi theo đến khu vực cây xăng O thì BVP và BVD bị ngã xe, BVP đã ném con dao và tập tiền lấy được qua hàng rào của Công ty xăng dầu khu vực 3 và sau đó bị bắt giữ. Còn BVD tiếp tục dựng xe môtô lên và điều khiển xe bỏ chạy tới ngã tư cầu Tam Bạc thì cũng bị bắt giữ và đưa về trụ sở Công an phường O lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Thu giữ của BVD một xe mô tô bên trong cốp xe có biển kiểm soát 15B3 - 642.68 và một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung bị vỡ màn hình; thu giữ của BVP một con dao dài 27cm và một điện thoại Masstel.
Về dân sự: Chị BH khai số tiền bị BVP và BVD chiếm đoạt khoảng 18.000.000 (mười tám triệu) đồng, hiện chị BH đã nhận bồi thường từ đại diện gia đình của các bị cáo số tiền trên và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Về vật chứng: Đối với số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng BVD và BVP chiếm đoạt của chị BH, khi bị truy đuổi BVP đã ném qua hàng rào của Công ty xăng dầu khu vực 3, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được. Một xe mô tô Honda Airblade, bên trong cốp xe có một biển kiểm soát: 15B3 - 642.68; một điện thoại di động Samsung bị vỡ thu giữ của BVD; một con dao dài 27 cm và một điện thoại Masstel thu giữ của BVP chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng.
Tại phiên tòa, các bị cáo BVP và BVD đã khai nhận toàn bộ hành vi về việc lợi dụng sơ hở của bị hại trong khi đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường, các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại xảy ra vào hồi 11 giờ 15 phút ngày 25-02-2021 tại khu vực Cầu N, thuộc phường O, quận P. Cụ thể: Khi phát hiện bị hại đang điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15G1 - 562.42 đi cùng chiều phía trước, trong túi quần bên phải có để lộ ra một tập tiền nên BVP đã chỉ cho BVD điều khiển xe mô tô đi bám theo phía sau tìm thời cơ sẽ thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Khi đi đến khu vực đỉnh cầu N, thuộc phường O, quận P thì bị cáo BVD điều khiển xe áp sát bên phải xe bị hại, bị cáo BVP ngồi sau xe của bị cáo BVD điều khiển đã dùng tay trái lấy tập tiền trong túi quần của bị hại và bảo bị cáo BVD điều khiển xe bỏ chạy. Bị hại đã hô hoán và cùng một số người dân truy đuổi đến khu vực cây xăng ngã ba O đã ép ngã xe của các bị cáo. Bị cáo BVP bị bắt giữ ngay, còn bị cáo BVD tiếp tục dựng xe lên và điều khiển xe bỏ chạy đến khu vực ngã tư cầu Tam Bạc thì cũng bị bắt giữ như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã truy tố. Tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt được của bị hại là số tiền khoảng 18.000.000 đồng hiện không thu hồi được do khi bị ngã xe và bị truy đuổi bị cáo BVP đã ném qua hàng rào của Công ty xăng dầu khu vực 3.
Cáo trạng số 45/CT-VKSHB ngày 18-6-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã quyết định truy tố các bị cáo BVP và BVD về tội "Cướp giật tài sản", theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo BVP và BVD về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên phạt các bị cáo BVP và BVD đều từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù đều tính từ ngày tạm giữ 25-02-2021.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo và buộc các bị cáo đều phải chịu mỗi người 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy một con dao dài 27 cm. Trả lại cho bị cáo BVD một điện thoại di động Samsung bị vỡ và trả lại cho bị cáo BVP một điện thoại Masstel. Trả lại cho bà NLQ một xe mô tô Honda Air Blade mầu xanh xám không đeo biển kiểm soát, bên trong cốp xe có một biển kiểm soát 15B3 - 642.68.
Về trách nhiệm dân sự: Chị BH đã nhận được số tiền bồi thường từ đại diện gia đình các bị cáo và không còn yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên được phân công điều tra vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện, tuân thủ đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Chứng cứ xác định các bị cáo có tội: Tại phiên tòa, các bị cáo BVP và BVD đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc bị cáo BVD điều khiển xe môtô chở theo bị cáo BVP ngồi sau và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là số tiền khảng 18.000.000 đồng được để ở túi quần bên phải của chị BH khi chị BH đang điều khiển xe môtô lưu thông ở khu vực đỉnh cầu N về phía phường O, quận P xảy ra vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 25-02-2021.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo BVP và BVD đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo đã sử dụng xe môtô để thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác nên bị coi là "Dùng thủ đoạn nguy hiểm" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố các bị cáo về tội Cướp giật tài sản, với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính nguy hiểm do hành vi của mình gây ra những vẫn thực hiện hành vi nêu trên với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm mà các bị cáo thực hiện là tội rất nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, gia đình các bị cáo đã đứng ra thay mặt cho các bị cáo để bồi thường đầy đủ cho người bị hại số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt và người bị hại đã có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo cùng nhau bàn bạc và cùng nhau thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nên đánh giá vai trò và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là ngang nhau. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng và đều có các tình tiết giảm nhẹ như nhau nên cần áp dụng hình phạt đối với các bị cáo là ngang nhau.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Xét các bị cáo là người không có việc làm và thu nhập ổn định và ngoài hai chiếc điện thoại đã bị thu giữ khi bị bắt giữ thì không xác định được các bị cáo có tài sản riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Khi bắt giữ các bị cáo Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo BVD một xe mô tô nhãn hiệu Honda Ai r Blade mầu xanh xám bạc bên trong cốp xe có một biển kiểm soát 15B3 - 642.68 và một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung bị vỡ màn hình; thu giữ của bị cáo BVP một con dao dài 27cm và một điện thoại Masstel.
Đối với hai chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và Masstel đã thu giữ của BVD và BVP qua điều tra xác định đây là tài sản riêng sinh hoạt hàng ngày của các bị cáo, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo. Còn đối với con dao dài 27 cm thu giữ của BVP là con dao BVP nhặt được và mang theo trong người. Tại phiên tòa bị cáo BVP không đề nghị nhận lại và hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade mầu xanh xám bạc không đeo biển kiểm soát, bên trong cốp xe có một biển kiểm soát 15B3 - 642.68 qua điều tra xác định được chủ sở hữu và là tài sản riêng của bà NLQ (mẹ đẻ bị cáo BVD). Bà NLQ không biết việc bị cáo BVD sử dụng chiếc xe nêu trên vào việc phạm tội; tại phiên tòa bà NLQ đề nghị được nhận lại chiếc xe này để sử dụng nên cần trả lại chiếc xe mô tô này cho bà NLQ.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý đối với các vật chứng nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Chị BH đã nhận được toàn bộ số tiền bồi thường từ đại diện gia đình của các bị cáo. Tại phiên tòa chị BH trình bày ý kiến không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt các bị cáo BVP và BVD mỗi bị cáo 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đều tính từ ngày tạm giữ, ngày 25-02-2021.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy một con dao dài 27 cm, tay cầm bọc nhựa màu đen.
- Trả lại cho bị cáo BVD một điện thoại di động Samsung dạng bàn phím vỏ mầu trắng đã cũ.
- Trả lại cho bị cáo BVP một điện thoại di động Masstel màu đỏ đen đã cũ.
- Trả lại cho bà NLQ chiếc xe mô tô Honda Air Blade mầu xanh xám bạc không đeo biển kiểm soát, bên trong cốp xe có một biển kiểm soát 15B3 - 642.68.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng ngày 24-6-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo BVP và BVD đều phải chịu mỗi người 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Công an thành phố Hải Phòng; - CQĐT - Công an quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Sở Tư pháp Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng; - Các bị cáo; bị hại; người liên quan; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Kiên |