- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T- Lê Xuân T1 trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? p dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 c a Bộ luật Hình sự; các điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a y ban Thư ng vụ Quốc hội.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HS-ST Ngày: 18-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quách Xuân Luyện;
2. Ông Nguy n Xuân Th y;
- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm tham gia phiên toà: bà Dư ng Thị im Th m - iểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số 49/2021/TL-HS ngày 24 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Đinh Văn T - sinh năm 1982; n i cư trú: thôn TB, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: inh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn A (đã chết) và bà Nguy n Thị L; có vợ: Nguy n Thị Th và 02 con: lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; tiền sự: không; tiền án: ngày 15/6/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2020; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2021; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
2. Lê Xuân T1 - sinh năm 1989; n i cư trú: thôn TB, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam. nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: inh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Anh D và bà Nguy n Thị L; có vợ: Dư ng Thị H ng T2 và 02 con: lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: không; tiền án: ngày 30/7/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh V nh húc phạt 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/9/2019; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/3/2021; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Bị hại: ông Nguy n Văn T3 - sinh năm 1965 và bà Vũ Thị L1 - sinh năm 1965; cùng cư trú: thôn T, xã TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam.
Bà L1 y quyền cho ông T3 tham gia tố tụng (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Nguy n Thị Th - sinh năm 1987; n i cư trú: Thôn TB, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam, có mặt.
- Người làm ch ng:
1. Chị Dư ng Thị H ng T2 - sinh năm 1987; có mặt.
2. Bà Đinh Thị H - sinh năm 1965; vắng mặt.
3. Anh Nguy n Văn - 1980; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h s vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 31/11/2020, ông Nguy n Văn T3 nhận thi công xây dựng Cầu bắc qua mư ng nước có địa chỉ tại thôn Chè Kho Làng, xã TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam sau đó mang vật tư để ở khu vực này nhằm phục vụ công tác thi công. Khoảng 23 gi ngày 10/12/2020, Đinh Văn T điều khiển xe mô tô BKS 90B2 - 22... đi ch i vòng quanh khu vực ngã tư Xuân Thành thì gặp Lê Xuân T1, T1 r T đi ch i. hi cả hai đi qua khu vực đang thi công trên, T nói với T1 "Tí n a anh em mình quay lại xem có gì để lấy không ", sau đó cả hai đi ch i đến 01 gi ngày 11/12/2020 thì quay lại khu vục đang thi công và dừng xe lại. Cả hai thấy có nhiều tấm cốt pha bằng kim loại xếp ch ng lên nhau để ở ven đư ng, xung quanh không có ngư i trông coi nên T đứng cạnh xe mô tô để cảnh giới, còn T1 tiến tới vị trí để các tấm cốt pha, dùng hai tay lần lượt bê 04 tấm cốt pha trong đó có 03 tấm cốt pha T (60x140) cm và 01 tấm cốt pha T (60x60) cm đều có khung là các thanh sắt hình chữ V loại bản 05 cm, bề mặt là tôn dày 0,4cm để cạnh ch xe mô tô mà T đang đứng, sau đó T giữ xe, T1 lần lượt bê từng tấm cốt pha để lên yên xe. Lúc này T1 nhìn thấy 01 máy b m t m dưới lòng mư ng cạn nước nên nói với T "Anh ơi, có cái máy bơm", T đáp lại "Tý quay lại lấy sau". Sau đó T1 điều khiển xe mô tô còn T ng i phía sau giữ 04 tấm cốt pha đi về ngã tư Xuân Thành cách đó khoảng 300m thì dừng xe lại, cả hai cùng bê các tấm cốt pha xuống cất giấu ở ven đư ng 495B. Cất giấu xong, T điều khiển xe mô tô chở T1 quay lại khu vực cầu đang thi công, T tiếp tục đứng bên trên để cảnh giới, còn T1 đi xuống phía dưới lòng mư ng, dùng tay tháo ống hút nước, nhấc chiếc máy b m nước 1,5 W màu trắng dạng b m tõm được móc tai xách vào cọc tre r i bê chiếc máy b m lên đặt ở phía sau yên xe máy, sau đó T điều khiển xe mô tô chở T1 cùng chiếc máy b m quay lại vị trí cất giấu các tấm cốt pha lấy được trước đó. Cả hai lần lượt bê các tấm cốt pha để lên yên xe, T điều khiển xe mô tô chở T1 cùng các tấm cốt pha mang đến quán thu mua sắt vụn Hy do chị Ngô Thị T4 - sinh năm 1988 làm ch , có địa chỉ tại BL, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam bán được 480.000 đ ng, T chia cho T1 số tiền 270.000 đ ng r i điều khiển xe mô tô chở T1 quay lại ch cất giấu máy b m định mang đi bán tiếp, song đêm khuya nên cả hai để để lại chiếc máy b m ở ch đã cất giấu r i đi về nhà.
Đến khoảng 08 gi cùng ngày, T điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream (không xác định được biển kiểm soát) đến đón T1 ở khu vực ngã tư Xuân Thành thuộc địa phận xã Thanh Nguyên, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam r i cả hai đi đến vị trí cất giấu máy b m nước trước đó, lấy máy b m mang đến gần khu vực cầu Tâng, xã Thanh Hư ng để bán nhưng không bán được. Lúc này, T1 có việc phải đi Hà Nội gấp, nên T đưa cho T1 số tiền 300.000 đ ng r i một mình T điều khiển chiếc xe mô tô mang chiếc máy b m t m bán cho một ngư i đàn ông thu mua phế liệu T gặp ở dọc đư ng (không r nhân thân lai lịch) với giá 500.000 đ ng. T bộ số tiền có được từ 04 tấm cốt pha và 01 chiếc máy b m t m T1 và T đã tiêu sài cá nhân hết.
Sau khi kiểm tra phát hiện bị mất tài sản, ngày 18/01/2021 ông Nguy n Văn T3 có đ n trình báo C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm về việc bị mất 01 máy b m và 14 tấm cốt pha. C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm đã tiến hành khám nghiệm hiện trư ng, kết quả xác định hiện trư ng xảy ra tại khu vực cầu mới xây dựng thuộc thôn Chè ho Làng, xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; cầu mới xây có kích thước (9x6,2)m chạy dọc hướng Bắc Nam.
Do không thu h i được số tài sản nêu trên, nên C quan CSĐT- Công an huyện Thanh Liêm tiến hành cân trọng lượng tấm cốt pha còn lại có kích thước và vật liệu như các tấm cốt pha đã bị mất trộm, xác định được trọng lượng 01 tấm cốt pha bằng kim loại T (60x140)cm là 22,5 kg; trọng lượng 01 tấm cốt pha bằng kim loại T (60x60)cm là 10 kg.
Ngày 03/2/2021 C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm đã ra yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu Hội đ ng định giá tài sản huyện Thanh Liêm xác định giá trị: 01 chiếc máy b m loại máy b m t m, đã qua sử dụng; trị giá tấm cốt pha bằng kim loại T (60x140)cm trọng lượng 22,5 kg; trị giá tấm cốt pha bằng kim loại T (60x60)cm trọng lượng 10 kg đều đã qua sử dụng vào th i điểm ngày 11/12/2020.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2021 c a Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Liêm kết luận: “Giá trị của 01 chiếc máy bơm loại máy bơm tõm, đã qua s dụng tại thời điểm ngày 11/12/2020 là 1.500.000 đ ng; Giá trị của tấm c t pha b ng kim loại KT (60x140)cm n ng 22.5kg đã qua s dụng tại thời điểm ngày 11/12/2020 là 22,5x24.000 540.000 đ ng; Giá trị của tấm c t pha b ng kim loại KT (60x60)cm n ng 10 kg đã qua s dụng tại thời điểm ngày 11/12/2020 là 10 x 24.000 = 240.000 đ ng”. Như vậy tổng giá trị tài sản T và T1 đã trộm cắp là 3.360.000 đ ng.
Bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 24/5/2021 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Đinh Văn T và Lê Xuân T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm thực hành quyền công tố kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm c a hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như vai trò nhân thân c a các bị cáo. Đề nghị Hội đ ng xét xử: tuyên bố các bị cáo Đinh Văn T và Lê Xuân T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 c a Bộ luật Hình sự - Xử phạt Đinh Văn T từ 15 đến 21 tháng tù. Lê Xuân T1 từ 12 đến 18 tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam. Mi n hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình c bản như bản cáo trạng đã mô tả và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án chị Nguy n Thị Th có ý kiến: chị là vợ c a bị cáo Đinh Văn T, chiếc xe mô tô B S 90B2 – 22... mà bị cáo T chở T1 đi trộm cắp là tài sản riêng c a chị mua năm 2016. Ngu n tiền mua xe là do anh Nguy n Văn H - sinh năm 1970; trú tại: tổ dân phố BL, phư ng TC, thành phố PL, tỉnh Hà Nam (anh trai chị) cho chị. Việc bị cáo sử dung chiếc xe trên đi trộm cắp thì chị không biết và chị đã bán chiếc xe trên cho một ngư i đàn ông không quen biết vào giữa tháng 12 năm 2020, việc mua bán không làm giấy t . Sau khi trộm cắp, bị cáo T có điện thoại cho chị tác động để chị b i thư ng cho bị hại và chị đã cùng chị T2 (vợ bị cáo T1) b i thư ng cho bị hại là ông Nguy n Văn T1 số tiền 3.800.000 đ ng. Nay, chị không yêu cầu bị cáo T phải trả cho chị số tiền trên.
Ngư i làm chứng chị Dư ng Thị H ng T2 có ý kiến: chị là vợ c a bị cáo Lê Xuân T1, chị xác định chị cùng với chị Nguy n Thị Th b i thư ng cho bị hại là ông Nguy n Văn T1 số tiền 3.800.000 đ ng. Nay, chị không yêu cầu bị cáo T1 phải trả cho chị số tiền trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong h s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng c a Điều tra viên, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án không có ngư i nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà cũng như tại C quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. L i khai c a các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với chính l i khai c a các bị cáo tại c quan điều tra, phù hợp l i khai c a bị hại, ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trư ng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong h s vụ án. Hội đ ng xét xử có đ c sở để kết luận:
hoảng 01 gi ngày 11/12/2020, tại khu vực thi công xây dựng cầu thuộc địa phận thôn Chè ho Làng, xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, Đinh Văn T và Lê Xuân T1 đã lén lút lấy trộm 01 máy b m nước loại 1,5kw trị giá 1.500.000 đ ng và 04 tấm cốt pha bằng kim loại, trong đó 03 tấm kích thước (60x140) cm, 01 tấm kích thước (60x60)cm trị giá 1.860.000 đ ng, tổng giá trị tài sản là 3.360.000đ (ba triệu ba trăm sáu mư i nghìn đ ng) c a ông Nguy n Văn T3 - sinh năm 1965, trú tại thôn T, xã TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam là ch thầu để ở khu vực xây dựng này. Hành vi nêu trên c a các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố c a Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội c a các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản c a ngư i khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phư ng. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị trên hai triệu đ ng và dưới năm mư i triệu đ ng. Bản thân các bị cáo có đ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đ ng xét xử thấy cần ra bản án nghiêm khắc tư ng xứng hành vi phạm tội c a các bị cáo.
Trong vụ án này có nhiều đối tượng tham gia nên đây là vụ án có tính đ ng phạm. Tuy nhiên các bị cáo không phân công vai trò, trách nhiệm cụ thể, nên xác định là đ ng phạm giản đ n. Xét vai trò c a các bị cáo trong vụ án thấy: Đinh Văn T là ngư i khởi xướng, cảnh giới và trực tiếp đi tiêu thụ tài sản, nên giữ vai trò thứ nhất c a vụ án, Lê Xuân T1 là ngư i trực tiếp lấy và tham gia tiêu thụ tài sản nên đ ng phạm với vai trò thứ 2 trong vụ án. Xét về thân nhân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo Lê Xuân T1 và Đinh Văn T đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội với l i cố ý nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; tự nguyện tác động gia đình khắc phục hậu quả, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.
Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội c a các bị cáo; Hội đ ng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân lư ng thiện và có tác dụng phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo là ngư i lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên mi n phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra xác định, các bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình b i thư ng cho ông Nguy n Văn T3 số tiền 3.800.000 đ ng. Ông Nguy n Văn T3 không có yêu cầu gì khác đ ng th i có đ n xin rút trình báo, nên Hội đ ng xét xử không xem xét giải quyết.
Các vấn đến khác: đối với chiếc xe mô tô B S 90B2- 22... T điều khiển chở T1 đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định ngư i đứng tên đăng ký là chị Nguy n Thị Th (vợ c a T), đây là tài sản c a chị Th được tặng cho riêng, không liên quan đến tài sản chung c a vợ ch ng, T mượn xe để đi ch i, chị Th không biết T sử dụng phư ng tiện đi trộm cắp tài sản, trước khi ông T1 trình báo vụ việc và C quan điều tra tiến hành xác minh thì chị Th đã bán chiếc xe này cho một ngư i đàn ông không quen biết vào khoảng giữa tháng 12/2020, quá trình mua bán không có giấy t mua bán nên C quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm không thu h i được chiếc xe mô tô này, do đó Hội đ ng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với xe kiểu dáng Dream (không xác định được biển kiểm soát) T sử dụng để mang máy b m nước đi bán, T xác định mượn c a một ngư i bạn tên Công (T không xác định được nhân thân lai lịch), sau đó T đã trả lại chiếc xe trên, quá trình mượn xe T không nói cho Công biết về việc sử dụng chiếc xe trên để đi tiêu thụ tài sản, nên C quan CSĐT- Công an huyện Thanh Liêm không có căn cứ để thu h i, xử lý, do đó Hội đ ng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với hành vi c a ch quán thu mua phế liệu HY là chị Ngô Thị T4 quá trình điều tra không thừa nhận việc đã mua 04 tấm cốt pha, tuy nhiên T và T1 đều xác định quá trình mua bán không nói đây là tài sản do trộm cắp được mà có nên CSĐT-Công an huyện Thanh Liêm không có căn cứ xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với chị T4 về hành vi tiêu thụ tài sản do ngư i khác phạm tội mà có, là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
Việc ông Nguy n Văn T3 trình báo sau khi kiểm tra xác định bị mất 14 tấm cốt pha các loại song không xác định được bị mất trộm vào th i điểm nào, C quan CSĐT- Công an huyện Thanh Liêm đã tập trung đấu tranh song T và T1 chỉ thừa nhận lấy 04 tấm cốt pha, ngoài l i khai c a ông T3 không có tài liệu nào khác chứng minh, do đó không có căn cứ để buộc T và T1 phải chịu trách nhiệm đối với giá trị 10 tấm cốt pha còn lại, C quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm tách ra tiếp tục xác định r để xử lý sau khi có đ căn cứ là đúng với pháp luật.
Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự s thẩm theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
p dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 c a Bộ luật Hình sự; các điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a y ban Thư ng vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: các bị cáo Đinh Văn T và Lê Xuân T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt:
- Bị cáo Đinh Văn T 15 (mư i lăm) tháng tù, th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2021.
- Bị cáo Lê Xuân T1 12 (mư i hai) tháng tù, th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2021.
Mi n hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
3. n phí: buộc các bị cáo Đinh Văn T và Lê Xuân T1 m i bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự s thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: các bị cáo, ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
“Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - V SND tỉnh Hà Nam; - V SND huyện Thanh Liêm; - Công an huyện Thanh Liêm; - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam; - Cổng thông tin điện tử c a Tòa án; - Các bị cáo; - Bị hại; - Ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án; - Lưu h s . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Cảnh |