- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HNGĐ-ST Ngày 17-11-2021 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Thái Nguyên.
Bà Phan Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 158/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1976.
Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Hồ Văn V, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Lê Thị T và ông Hồ Văn V tìm hiểu, tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên vào năm 1995. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân theo nguyên đơn trình bày do ông Vinh ham chơi cờ bạc, thường xuyên bỏ nhà đi, không có trách nhiệm với gia đình. Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn vì không còn tình cảm, không thể chung sống có hạnh phúc được nữa. Vợ chồng có 03 người con chung, trong đó 02 người đã trưởng thành và có cuộc sống riêng ổn định, cháu Hồ Tôn H – sinh ngày 17/4/1996 bị bệnh thực thể tại não kèm sa sút trí tuệ, mất sức lao động tỷ lệ 81%, không tự nuôi sống bản thân được, hiện cháu H đang ở với bà T. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu trực tiếp nuôi cháu H, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; bà T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Lê Thị T nộp đơn khởi kiện ngày 03/6/2021, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông Hồ Văn V có nơi cư trú tại xã H, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu ly hôn: Xét tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà T và ông Vinh có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà T yêu cầu ly hôn vì không còn tình cảm vợ chồng, không thể chung sống với nhau được nữa, hiện cả hai không còn chung sống, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng được trưởng thôn xác nhận đúng sự thật. Do đó có căn cứ xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của bà T và ông Vinh đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
Về con chung: Bà T và ông Vinh có 3 người con chung gồm: Hồ Tôn H – sinh ngày 17/4/1996; Hồ Ngọc H – sinh ngày 08/5/1998; Hồ Thị Lan N – sinh ngày 24/2/2001. Hiện cháu H và cháu N đã trưởng thành có cuộc sống riêng ổn định nên bà T không yêu cầu gì. Riêng cháu Hồ Tôn Hiến không tự sinh sống được do bị bệnh thực thể tại não kèm sa sút trí tuệ, mất sức lao động tỷ lệ 81%, có Biên bản giám định của tổ giám định y khoa huyện Tây Hòa làm chứng cứ, thuộc trường hợp con chung là người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình; hiện bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng. Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà T là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Tòa án chấp nhận giao cháu H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Bà T không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.
Bà T không yêu cầu về chia tài sản chung.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn ông Hồ Văn V.
Về con chung: Sau khi ly hôn, giao con chung Hồ Tôn H – sinh ngày 17/4/1996 là người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Ông Hồ Văn V được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp có đơn yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 00002425 ngày 30/8/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Nguyên đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND H; - VKSND huyện Tây Hòa; - Chi cục THADS huyện Tây Hòa; - TAND tỉnh Phú Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Vinh |