- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị H + Nguyễn Việt B"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị H, cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Việt B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HNGĐ - ST Ngày: 27-9-2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bình; ông Nguyễn Văn Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 82/2021/TLST - HNGĐ ngày 24/5/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 26/7/2021 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2021/QĐST-HNGĐ ngày 17/8/2021, số 34/2021/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2021 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Mai Thị H - Sinh năm: 1993 - Địa chỉ: Thôn Hải Tiến, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Việt B - Sinh năm: 1992 - Địa chỉ: Thôn Hải Tiến, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/5/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Mai Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Việt B kết hôn vào ngày 10/10/2016, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 6/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra xung đột, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cộng với việc anh B còn chơi bời lô đề, cờ bạc, rượu chè. Sau nhiều lần khuyên bảo nhưng không được, vợ chồng chị đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2021 cho đến nay, chị và anh B không còn quan tâm đến nhau. Nay chị thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu được ly hôn anh B.
Về con: Vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Quốc H - Sinh ngày: 01/6/2017 và Nguyễn Tuấn P - Sinh ngày: 08/10/2020. Hiện tại 02 cháu đang ở với chị. Chị yêu được trực tiếp nuôi cả 02 con, không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, anh B đã biết được chị H khởi kiện xin ly hôn anh ra Tòa án nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt, không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.
Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm là được ly hôn anh B, yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; còn anh B vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt anh B.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị H, cho chị Mai Thị H được ly hôn anh Nguyễn Việt B. Về con: Giao cả 02 cháu Nguyễn Quốc H - Sinh ngày: 01/6/2017 và Nguyễn Tuấn P - Sinh ngày: 08/10/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị H phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của chị Mai Thị H, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Mai Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Việt B. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Nga Sơn.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã đến tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Việt B biết việc chị Mai Thị H xin ly hôn anh. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh B vắng mặt nên không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Ngày 17/8/2021, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, anh B vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Ngày 09/9/2021, Tòa án đưa vụ án ra xét xử nhưng do dịch bệnh Covid-19, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đang trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống dịch Covid-19; nên Hội thẩm nhân dân, các đương sự không thể có mặt tại phiên tòa được vì lý do trở ngại khách quan, phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh B vẫn vắng mặt. Như vậy, việc anh B không đến Tòa án để giải quyết vụ án là trường hợp cố tình trốn tránh, theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh B.
Về hôn nhân: Chị Mai Thị H và anh Nguyễn Việt B kết hôn ngày 10/10/2016, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 6/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra xung đột, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, mặt khác, anh B còn chơi bời lô đề, cờ bạc, rượu chè, chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng không được, vợ chồng chị đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2021 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau.
Tại biên bản xác minh ngày 08/6/2021, đại diện thôn Hải Tiến, xã Nga Hải cho biết anh B và chị H sau khi kết hôn chung sống đến khoảng tháng 6/2018 anh chị xảy ra mâu thuẫn, do anh B chơi bời, lô đề, cờ bạc, kể từ đầu năm 2021 đến nay chị H và anh B sống ly thân nhau.
Như vậy, chị H và anh B đã có thời gian sống ly thân nhau, kể từ khi chị H nộp đơn ra Tòa án anh B không có ý kiến gì, chứng tỏ cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho chị H được ly hôn anh B là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị H và anh B có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc H
- Sinh ngày: 01/6/2017 và Nguyễn Tuấn P - Sinh ngày: 08/10/2020. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 02 con. HĐXX thấy, từ khi anh B và chị H sống ly thân nhau đến nay 02 cháu ở với chị H, mặt khác, 02 cháu đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, nên xử giao cả 02 cháu Quốc H và Tuấn P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn.
Về mức cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, nên miễn xét.
Về tài sản: Chị H không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
Về án phí: Chị Mai Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị H, cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Việt B.
2. Về con: Giao cả 02 cháu Nguyễn Quốc H - Sinh ngày: 01/6/2017 và Nguyễn Tuấn P - Sinh ngày: 08/10/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Mai Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0011055 ngày 21/5/2021 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn; chị H đã nộp đủ tiền án phí DSST.
4. Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh B có quyền kháng bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Nga Sơn; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - UBND xã H, huyện N; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tuyển |