vanban.org

Bản án 47/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 25/05/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị B đề ngày 17/02/2021.

Buộc bà Huỳnh Thị M phải trả cho bà Trương Thị B 1.100.000.000đ (một tỷ một trăm triệu đồng) về khoản vay tài sản. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa trả khoản tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi, theo mức lã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bà Trương Thị B, bà Huỳnh Thị M tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị B đề ngày 17/02/2021.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________
Bản án số: 47/2021/DS-ST
Ngày: 25/5/2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản’’

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Tự.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Khắc Hiếu.

2. Ông Lương Công Hạnh.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng - Cán bộ TAND thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Trong ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2021/TLST-DS ngày 19/02/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2021/QĐST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trương Thị B, sinh năm 1969

Địa chỉ: Thôn N, xã B, TP. T, Phú Yên. Có mặt

* Bị đơn: Bà Huỳnh Thị M , sinh năm 1959

Địa chỉ: đường N, phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Chỗ ở: đường N, phường 5, TP. T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 17/02/2021, tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trương Thị B trình bày: Ngày 24/9/2020, bà Huỳnh Thị M có vay của bà Trương Thị B 1.100.000.000đ, lãi suất 3%/tháng, hẹn đến tháng 02/2021 Al trả nhưng từ đó đến nay bà M chưa trả khoản tiền gốc + lãi nào.

1

Nay bà B yêu cầu bà M phải trả đủ ngay số tiền 1.100.000.000đ chứ không đồng ý cho bà M trả dần theo thời gian: tháng 9/2021 trả 600.000.000đ; tháng 02/2022 tiếp tục trả 500.000.000đ là xong khoản nợ 1.100.000.000đ. Còn tiền lãi bà B không yêu cầu.

* Bị đơn bà Huỳnh Thị M trình bày: Bà M thừa nhận ngày 24/9/2020 bà có vay của bà Trương Thị B 1.100.000.000đ với lãi suất 6%/tháng để làm ăn kinh tế gia đình, hẹn đến tháng 02/2021 AL trả đủ nợ. Nhưng vì làm ăn bị thua lỗ nên chưa có tiền trả cho bà B. Nay bà B khởi kiện yêu cầu bà trả nợ thì bà M đồng ý và xin trả dần như sau: tháng 9/2021 trả 600.000.000đ, tháng 02/2022 tiếp tục trả 500.000.000đ là xong khoản nợ 1.100.000.000đ. Còn tiền lãi bà xin không trả.

Tòa án nhân dân TP. Tuy Hòa đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự bà B với bà M tranh chấp hợp đồng vay tài sản; nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà B: Ngày 24/9/2020 bà Huỳnh Thị M có vay của bà Trương Thị B 1.100.000.000đ lãi suất 3%/tháng, hẹn đến 02/2021Al trả nhưng từ đó đến nay bà M chưa trả khoản tiền gốc + lãi nào.

Nay bà B yêu bà M phải trả đủ ngay số tiền 1.100.000.000đ chứ không đồng ý cho bà M trả dần vào các tháng 9/2021 trả 600.000.000đ; tháng 02/2022 tiếp tục trả 500.000.000đ là xong khoản nợ 1.100.000.000đ.

Bà M thừa nhận ngày 24/9/2020 bà có vay của bà Trương Thị B 1.100.000.000đ với lãi suát 6%/tháng để làm ăn kinh tế gia đình, hẹn đến tháng 02/2021 AL trả đủ nợ. Nhưng vì làm ăn bị thua lỗ nên chưa có tiền trả cho bà B. Nay bà B khởi kiện yêu cầu bà trả nợ thì bà M đồng ý và xin trả dần như sau: tháng 9/2021 trả 600.000.000đ, tháng 02/2022 tiếp tục trả 500.000.000đ là xong khoản nợ 1.100.000.000đ . Còn tiền lãi bà xin.

Thấy rằng: Hai bên thống nhất khoản nợ 1.100.000.000đ nhưng không thống nhất thời gian trả nợ, nhưng xét nghĩa vụ trả nợ của bà M đã vi phạm. Do đó, bà B yêu cầu bà M phải trả đủ ngay số tiền 1.100,000,000đ là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bà Huỳnh Thị M phải chịu trên số nợ phải trả cho bà 1.100.000.000đ là 45.000.000đ án phí DS/ST. Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí DSST.

Vì các lẽ trên,

2

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị B đề ngày 17/02/2021.

Buộc bà Huỳnh Thị M phải trả cho bà Trương Thị B 1.100.000.000đ (một tỷ một trăm triệu đồng) về khoản vay tài sản.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa trả khoản tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Về án phí: Bà Huỳnh Thị M phải chịu 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) án phí DS/ST. Hoàn trả cho bà Trương Thị B 22.500.000đ (hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí DSST theo biên lai thu tiền số 000nnnn ngày nn/nn/2021 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Tuy Hòa.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ