- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc H phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2020/HSST Ngày: 31-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Nam Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
2. Ông Cao Quốc Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 2 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh) đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2020/HSST ngày 07/7/2020 theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 69/ 2020/QĐXXST-HS ngày 10/7/2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc H, giới tính: Nam, sinh năm: 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1202 đường A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 1345 đường A1, Phường B1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Thợ sửa xe máy; con ông Nguyễn Quốc N, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1970; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày: 31/3/2020, có mặt.
* Bị hại: Anh Vũ Hữu Q, sinh năm 1981.
Trú tại: 1343 đường A1, phường B1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo H: Ông Đỗ Đình Nam-Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Trưởng Chi nhánh Công ty Luật TNHH MTV Duy Nguyễn tại Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc H và anh Vũ Hữu Q cùng làm nghề sửa xe gắn máy cạnh bên nhau. H mở tiệm sửa xe số 1345 còn anh Q mở tiệm sửa xe số đường A1, phường B1, Quận D. Trong quá trình làm việc, giữa H và anh Q thường xuyên xảy ra mâu thu n, xích mích trong việc tranh giành khách hàng, giành chỗ để xe và đã được Công an phường Cát Lái mời lên làm việc nhiều l n để hòa giải mâu thu n giữa hai bên.
Khoảng 05 giờ 20 phút ngày 18/12/2019, anh Q th c dậy mở cửa tiệm sửa xe gắn máy c a mình tại địa ch trên. Sau đó, anh Q qua v a h sát bên phải tiệm sửa xe để ngồi uống trà cùng với anh Nguyễn Hữu L (là nhân viên cảng Cát Lái). Khi anh Q ngồi uống trà thì thấy 01 xe gắn máy đang dựng sát bàn trà c a mình, đ u xe hướng vào trong tường nên anh Q đã đi đến đẩy xe mô tô trên xích vào trong. Trong lúc anh Q đang đẩy xe thì Nguyễn Quốc H đang sửa xe cạnh bên, bực t c H c m tua vít b ng tay phải chạy đến chỗ anh Q rồi dùng tua vít đâm vào vùng c , bụng c a anh Q gây thương tích. Cả hai ôm, vật nhau làm anh Q té ngã xuống đất. Lúc này H v n c m tua vít trên tay nên khi cả hai vật nhau gây ra một số sây sát nh ở vùng bụng, lưng và nách c a anh Q. Thấy vậy chị V Thị H và anh Nguyễn Hữu L vào can ngăn và đưa anh Q vào Bệnh viện Quận 2 cấp c u.
Nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 tiến hành khám nghiệm hiện trường, ghi lời khai, lập hồ sơ xử lý.
Với kết quả điều tra có đ y đ ch ng c ch ng minh H phạm tội. Ngày 31/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 bắt giữ Nguyễn Quốc H để điều tra, xử lý về tội “Cố ý gây thương tích”. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Theo bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số 125/TgT.20 ngày 26/02/2020 c a Trung tâm Pháp y Sở tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về thương tích c a anh Vũ Hữu Q như sau:
Vết thương vùng c trái gây th ng khí quản, tràn khí mô mềm vùng c
ngực đã điều trị hiện còn.
01 vết còn mày kích thước 0, x 0,5 cm.
Hình ảnh s o thành trước khí quản, cách cửa khí quản 02 cm không gây h p lòng khi nội soi khí phe quản.
Hình ảnh tràn khí mô mềm vùng c hai bên, trên thành ngực, tràn khí trung thất trên phim chụp cắt lớp vi tính.
T lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 19%.
Vật ch ng thu giữ: 01 tua vít tay c m b ng nhựa màu vàng, đen, ph n thân, mũi vít b ng kim loại hình sao, tua vít đã qua sử dụng dài 31 cm.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Nguyễn Quốc H đã bồi thường cho anh Vũ Hữu Q số tiền 25.000.000 đồng, anh Q đã làm đơn bãi nại và không yêu c u đòi bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi c a mình như trên, bị cáo đồng ý với các kết luận giám định và không có ý kiến gì khác.
Bản Cáo trạng số 49/CT-VKSQ2 ngày 02/7/2020 c a Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Đây là vụ án cố ý gây thương tích do Nguyễn Quốc H vào khoảng 05 giờ 20 phút ngày 18/12/2019, tại v a h cạnh nhà số 1343 đường A1, phường B1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Đã có hành vi dùng tua vít là hung khí nguy hiểm đâm anh Vũ Hữu Q gây thương tích là 19 . Hành vi c a H đã xâm phạm đến s c kh e c a người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tặng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại phiên Tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo, gia đình bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại và đã được bị hại làm đơn bãi nại cho bị cáo, bị cáo phạm tội l n đ u nhân thân chưa có tiền án tiền sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh cho bị cáo một ph n hình phạt theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 v n giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc H từ 03 năm đến 04 năm tù.
Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên cũng đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nh cho bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội l n đ u, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo và gia đình đã tích cực bồi thường cho bị hại và được bị hại bãi nại cho bị cáo. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng b ng cách xử phạt bị cáo với m c hình phạt thấp hơn ở khung hình phạt liền kề cụ thể là 02 năm tù và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa và nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi người bị hại, bị cáo rất ăn năn hối hận xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các ch ng c và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi:
Quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Quốc H đã thừa nhận có hành vi dùng cây tua vít gây thương tích cho anh Q với tỷ lệ thương tật là 19%.
Lời khai c a bị cáo phù hợp với lời khai c a bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội, kết luận giám định ... và phù hợp với các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đ cơ sở kết luận hành vi c a bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017 như kết luận c a Kiểm sát viên.
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội c a bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, xâm phạm tinh th n, s c kh e c a công dân, được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang dao động trong qu n chúng tại địa phương. Ch từ một mâu thu n nh t c giận nhất thời mà bị cáo đã có cách hành xử để giải quyết mâu thu n b ng cách dùng cây tua vit đâm vào người bị hại gây thương tích đến 19%, thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, s c kh e c a người khác. Cách giải quyết mâu thu n và hành xử c a bị cáo là không thể chấp nhận và đã vi phạm pháp luật, nên Hội đồng xét xử xét thấy c n phải xử phạt bị cáo với m c án nghiêm khắc như đại diện Viện kiểm sát đề nghị mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:
Hành vi c a bị cáo là dùng hung khí nguy hiểm và gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật đến 19%. Đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017, nên c n phải áp dụng để xử phạt bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác. Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo, gia đình bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại và đã được bị hại làm đơn bãi nại, bị cáo phạm tội l n đ u nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017, nên áp dụng để giảm nh một ph n hình phạt cho bị cáo. Xét lời bào chữa c a Luật sư phù hợp một ph n với nhận định c a Hội đồng xét xử nên chấp nhận một ph n th nh c u c a Luật sư, giảm nh cho bị cáo một ph n hình phạt khi lượng hình.
Về dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Đối với: 01 tua vít tay c m b ng nhựa màu vàng, đen, ph n thân, mũi vít b ng kim loại hình sao, tua vít đã qua sử dụng dài 31 cm, xét đây là tang vật c a vụ án và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu h y.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định c a pháp luật.
Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đ i, b sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu h y: 01 tua vít tay c m b ng nhựa màu vàng, đen, ph n thân, mũi vít b ng kim loại hình sao, tua vít đã qua sử dụng dài 31 cm.
(Theo Quyết định chuyển vật ch ng số 22/QĐ-VKSQ2 ngày 02/7/2020 c a Viện kiểm sát nhân dân Quận 2).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - Công an TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 2; - Thi hành án Dân sự Quận 2; - Công an Quận 2; - Thi hành án Hình sự; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đoàn Nam Hà |