- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự và điểm a; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2020/HSST Ngày: 16/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Ngọc Sáng; Ông Tống Văn Đông
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường tè tham gia phiên toà: La Văn Xôm, kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2020/HSST, ngày 29 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2020/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 8 năm 2020 và Thông báo mở phiên tòa số: 05/TB-TA, ngày 03 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Lùng Văn Ư- Tên gọi khác: không; sinh năm: 1991; sinh tại: thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố 9, Thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Giáo viên; Đảng, đoàn: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lùng Văn B, sinh năm: 1964; Con bà: Lò Thị Kh - đã chết. Bị cáo có vợ: Chang Thị Ng, sinh năm 1990 ( đã ly hôn); Bị cáo có 02 con; con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo được áp dụng bện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/05/2020 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Trường tiểu học xã Bum tở, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Đại diện theo pháp luật là ông: Phạm Thành L - Hiệu trưởng trường tiểu học xã Bum tở, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu – Vắng mặt, Ủy quyền cho bà: Lò Thị Ng - Hiệu phó Trường tiểu học xã B - có mặt
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quang H - Trú tại: khu phố 8 thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 01/03/2020, Lùng Văn Ư là giáo viên trường tiểu học B, mang theo 01 con dao nhọn có chiều dài khoảng 40 cm, đi xe mô tô từ nhà ở của Ương, tại khu phố 9 thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, lên điểm trường số 2 xã Bum Tở, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Khi đến nơi, quan sát không thấy bảo vệ nhà trường, Ư đi vào trong trường, quan sát thấy có lắp camera, Ư quan sát phòng hiệu phó không có người, Ư đi ra nhổ 01 cột lưới cầu lông bằng sắt, một đầu có móc cố định và 01 thanh kim loại 4/4cm dài 1,68m đi đến cạy phá cửa phòng học cạnh phòng hiệu phó, rút phích cắm điện camera. Sau khi vào được bên trong, Ư rút phích điện rồi lấy thanh sắt phi 12 dài khoảng 32 cm sang cạy cửa phòng hiệu phó, sau khi cạy tạo được khe hở, Ư chui vào phòng, dùng dao đem theo cắt dây đầu thu camera và dây nguồn máy tính, Ư lấy toàn bộ những tài sản gồm: 01 cây máy tính màu đen, 02 màn hình máy tính màu đen ( đều có nhãn hiệu FPT); 01 máy in nhãn hiệu Canon màu trắng; 01 đầu thu Camera nhãn hiệu HDCVI màu trắng mặt trên có ghi chữ @Jhua. Sau khi đem được số tài sản ra ngoài, Ư cho toàn bộ tài sản vào một bao tải màu xanh, Ương nhặt ven đường cho lên xe mô tô đi về nhà cất giấu. Đến khoảng 10 giờ ngày 02/03/2020, Ư đem 01 máy in Canon màu trắng và 01 màn hình máy tính nhãn hiệu FPT ra bán cho anh Nguyễn Quang H, trú tại: khu phố 8 thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, nhưng anh H chỉ mua 01 chiếc máy in với số tiền 1.000.000đồng, còn màn hình máy tính do anh Hiệu không mua nên Ư đã đem ra cống nước khu phố 8, thị trấn M cất giấu, nhưng khi Ư quay lại lấy thì màn hình máy tính đã bị đốt cháy chỉ còn lại khung. Quá trình điều tra thu được gồm: 01 máy in nhãn hiệu Canon màu trắng ( thu giữ tại nhà anh Nguyễn Quang H); 01 cây máy tính màu đen và 01 màn hình máy tính màu đen ( đều nhãn hiệu FPT); 01 đầu thu Camera nhãn hiệu HDCVI màu trắng, mặt trên có ghi chữ @Jhua; 01 thanh sắt phi 12 màu nâu, hình trụ dài 32cm; 01 thanh kim loại màu xám, hình trụ rỗng, một đầu có móc cố định, đường kính 2,2cm dài 2m; 01 thanh kim loại kích thước 04x4cm, dài 1,68m; 01 chuột máy tính loại có dây màu đen mặt trên có chữ FPT ELEAD, mặt dưới có chữ T, HOC B TỞ, dây chuột dài 17,5cm, đầu dây bị đứt không có Jack cắm; 01 Jack cắm có đầu bằng kim loại màu vàng, phía sau cuốn băng dính màu đen, dây dài 7cm; 01 chốt cửa kim loại hình trụ, bị gẫy vị trí móc khóa, một đầu có móc khóa nhãn hiệu Việt tiệp; 01 con dao nhọn dài 40 cm, thân dao bằng kim loại dài 27cm, cái dao bằng gỗ dài 13cm.
Qua định giá tài sản, tại bản Kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HDĐGTS, ngày 14 tháng 4 năm 2020, của Hội đồng định giá tài sản huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, đã kết luận: 01 bộ máy vi tính để bàn nhãn hiệu FPT và 01 cây máy tính nhãn hiệu FPT sản xuất năm 2014 có giá trị 1.200.000đồng; 01(một) màn hình máy tính để bàn nhãn hiệu FPT, sử dụng từ năm 2014 có giá trị 250.000đồng; 01 (một) máy in nhãn hiệu Canon, sản xuất năm 2013 có giá trị 250.000đồng; một đầu thu Cammera HDCVI mua năm 2017 có giá trị 1.400.000đồng. Tổng giá trị tài sản Lùng Văn Ương trộm cắp có giá trị 3.100.000đồng.
Tại Cáo trạng số: 35/CT-VKS -MT, ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Lùng Văn Ư về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lùng Văn Ư phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 BLHS. Xử phạt bị cáo Lùng Văn Ư từ 06 tháng đến 01 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173BLHS. Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy gồm: 01 thanh sắt màu nâu, hình trụ dài 32 cm; 01 thanh kim loại màu xám, hình trụ rỗng, một đầu có móc cố định, đường kính 2,2cm dài 02m; 01 thanh kim loại kích thước 4x4cm, dài 1,68m; 01 chuột máy tính, có dây màu đen, trên mặt có chữ FPT ALEAD, mặt dưới có chữ T " HOC B TỞ, dây chuột dài 17,5cm, đầu dây chuột không có jack cắm; 03 jack cắm liền dây bằng nhựa màu đen, có đầu bằng kim loại màu bạc, có chiều dài lần lượt là 14 cm, 45cm, 68cm; 01 dây điện màu đen dại 64cm; 01 bàn phím máy tính màu đen, nhãn hiệu DELL có dây chiều dài 17,5cm, dây bị đứt jack cắm; jack cắm có đầu bằng kim loại màu vàng, phía sau được cuốn băng kín màu đen, dây dài 07cm; 01 chốt cửa kim loại hình trụ tròn, bị gãy đôi vị trí móc khóa, một đầu có móc ổ khóa nhãn hiệu việt tiệp; 01 con dao nhọn dài 40 cm, thân dao làm bằng kim loại, thân dao làm bằng kim loại dài 27cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm.
Tại phiên tòa bị cáo Lùng Văn Ư khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì bổ sung; bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị hại tại phiên tòa không có ý kiến gì bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt, có ý kiến đề nghị bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000đồng. Bị cáo nhất tại phiên tòa nhất trí thỏa thuận xin được bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quang H là 1.000.000đồng theo yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Lợi dụng sơ hở của bảo vệ nhà trường, vào khoảng 22 giờ ngày 01/3/2020, Lùng Văn Ư, là giáo viên trường Tiểu học xã B đã vào điểm trường tiểu học xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu ( tại bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu) phá cửa Phòng hiệu phó nhà trường trộm cắp tài sản gồm: 01 bộ máy vi tính để bàn nhãn hiệu FPT ( cả màn và cây); 01(một) màn hình máy tính để bàn nhãn hiệu FPT; 01 (một) máy in nhãn hiệu Canon; một đầu thu Cammera HDCVI. Tổng giá trị tài sản Lùng Văn Ư trộm cắp có giá trị 3.100.000đồng.
Như vậy, khẳng định hành vi của bị cáo Lùng Văn Ư đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số: 35/CT-VKS-MT, ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố đối với bị cáo Lùng Văn Ư về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định.“Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[ 3 ] Về tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ, mục đích thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, quyền sở hữu tài sản của người khác là bất khả xâm phạm và được pháp luật hình sự bảo vệ, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình đã thực hiện.
[ 4 ] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân, bị cáo Lùng Văn Ư có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo nghiện chất ma túy.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng bị cáo Lùng Văn Ương luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra bị cáo đã chủ động bồi thường khắc phục hậu cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần phải xem xét áp dụng cho bị cáo. Người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho bị cáo. Tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng xét thấy, bị cáo là người nghiện chất ma túy; bị cáo là một giáo viên trong nhà trường, bị cáo không những không có trách nhiệm bảo vệ tài sản của nhà trường, không tu dưỡng rèn luyện mình để góp phần xây dựng nhà trường, mà bị cáo còn chủ động đến để cậy phá cửa phòng học, phòng làm việc của nhà trường lấy trộm tài sản, gây ảnh hưởng sấu đến uy tín của ngành giáo dục, cũng như môi trường giáo dục tại trường học. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét cần phải có hình phạt tù để giáo dục đối với bị cáo và cũng là công tác công tác dăn đe, phòng ngừa chung, nhất là trong việc quản lý, giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ công chức, viên chức.
[ 5 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai bị cáo tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với anh Nguyễn Quang H là người mua tài sản trộm cắp của Lùng Văn Ư, nhưng khi mua anh Hiệu hoàn toàn không biết đây là tài sản Ư trộm cắp, nên không xử lý đối với anh H là đúng quy định pháp luật.
[ 6 ] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 thanh sắt phi 12 màu nâu, hình trụ dai 32cm; 01 thanh kim loại màu xám, hình trụ rỗng, một đầu có móc cố định, đường kính dài 2,2cm, dài 2m; 01 thanh kim loại kích thước 4x4cm, dài 1,6m; 01 chuột máy tính, có dây màu đen, trên mặt có chữ FPT ALEAD, mặt dưới có chữ T HỌC B TỞ dây chuột dài 17,5 cm đầu dây không có jack cắm; 03 jack cắm điện bằng nhựa mà đen, có đầu bằng kim loại màu bạc, có chiều dài lần lượt là 14cm, 45cm, 68cm; 01 dây điện màu đen dài 64cm; 01 bàn phím máy tính màu đen, nhãn hiệu DELL có dây dài 17,5cm đã bị đứt jăck cắm; jăck cắm có đầu kim loại màu vàng, phía sau được cuốn băng kín màu đen, dây dài 07cm; 01 chốt cửa bằng kim loại hình trụ tròn, bị gẫy đôi tại vị trí móc khóa, một đầu có móc ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp; 01 con dao nhọn dài 40cm, thân dao làm băng kim loại dài 27cm cán dao dài 13cm. Toàn bộ những vật chứng trên là công cụ, phương tiện phạm tội và tài sản không còn giá trị sử dụng, cần phải tịch thu tiêu hủy.
[ 7 ] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị bị cáo bồi thường 1.000.000đồng. Tại phiên tòa bị cáo thỏa thuận, nhất trí bồi thường cho anh Nguyễn Quang Hiệu 1.000.000đồng theo yêu cầu và bị cáo thỏa thuận chịu toàn bộ án phí dân sự không giá ngạch. Xét thấy ý kiến thỏa thuận của bị cáo là hợp pháp không trái pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[ 8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Lùng Văn Ư phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự không giá ngạch là 150.000đồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự không giá ngạch là 350.000đồng.
Từ những phân tích, đánh giá trên, xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ cần phải chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; 585; 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí.
1. Tuyên bố bị cáo Lùng văn Ư phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lùng Văn Ư 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 thanh sắt phi 12 màu nâu, hình trụ dài 32cm; 01 thanh kim loại màu xám, hình trụ rỗng, một đầu có móc cố định, đường kính 2,2cm, dài 2m; 01 thanh kim loại kích thước 4x4cm, dài 1,6m; 01 chuột máy tính, có dây màu đen, trên mặt có chức FPT ALEAD, mặt dước có chữ T HỌC B TỞ dây chuột dài 17,5 cm đầu dây không có jack cắm; 03 jack cắm điện bằng nhựa mà đen, có đầu bằng kim loại màu bạc, có chiều dài lần lượt là 14cm, 45cm, 68cm; 01 dây điện màu đen dài 64cm; 01 bàn phím máy tính màu đen, nhãn hiệu DELL có dây dài 17,5cm đã bị đứt jăck cắm; jăck cắm có đầu kim loại màu vàng, phía sau được cuốn băng kín màu đen, dây dài 07cm; 01 chốt cửa bằng kim loại hình trụ tròn, bị gẫy đôi tại vị trí móc khóa, một đầu có móc ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp.
3. Về dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và người có uyền lợi nghiac vụ liên quan, bị cáo bồi thười cho anh Nguyễn Quang H số tiền 1.000.000đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự
4. Về án phí: Bị cáo Lùng Văn Ư phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 150.000đồng án phí dân sự không giá ngạch 150.000đồng. Tổng cộng bị cáo phải chịu là 350.000đồng án phí.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, có mặt bị hại; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Thi hành án hình sự; - VKSND huyện; - Thi hành án dân sự huyện; - Sở Tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đỗ Mạnh Trang |