- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Trọng L phạm tội " Cướp giật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? *Áp dụng: Điểm d, e khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 ; Khoản 1, 2 Điều 48; Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47 /2020/HSST Ngày 05/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
_______________________
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Chuyên
Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Phú
Ông Trịnh Văn Hùng
-Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy – Thư ký Tòa án
Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc.
-Đại diện VKS nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên toà:
Ông Đoàn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 ngày 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2020/HSST ngày 03/7/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2020/QĐXXST- HS ngày 22/7/2020, đối với bị cáo:
I. Họ và tên: Hoàng Trọng L - Sinh ngày 06/8/1978. Nơi sinh: thôn B, xã T. L, Huyện Hậu Lộc, Tỉnh Thanh hoá. Chỗ ở hiện nay: thôn B, xã T. L, Huyện Hậu Lộc, Tỉnh Thanh hoá. Dân tộc: Kinh - Quốc tịch: Việt Nam - Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12 . Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên bố: Hoàng Trọng V-sinh năm 1951. Họ và tên mẹ: Phạm Thị H - Sinh năm 1955 (đã chết). Gia đình có 03 người con , bị cáo là con thứ hai trong gia đình.Vợ: Vũ Thị H1 - sinh năm 1981.Con: Hoàng Trọng Long V1 - sinh năm 2007. Tiền sự: không
Tiền án: 01 tiền án. Ngày 29/11/2000 bị TAND huyện Hậu Lộc xử phạt 54 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành xong phần án phí hình sự.
Nhân thân: Ngày 10/10/1998 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong bản án. Tại thời điểm phạm tội, Hoàng Trọng L chưa đủ 18 tuổi nên thuộc trường hợp không bị coi là có án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2020 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt.
II. Những người tham gia tố tụng:
*Người bị hại:
Chị Lê Thị Thu H2 – Sinh năm 1995 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Trang Các, thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung,Thanh Hóa.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn C – Sinh năm 1975 . (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã T. L, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Trọng L sinh năm 1978 ở thôn B, xã T. L, huyện Hậu Lộc là đối tượng nghiện ma túy, hiện đang điều trị bằng thuốc Methadone tại Trung tâm y tế huyện Hậu Lộc. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 22/02/2020, Hoàng Trọng L mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu POMUSPACYAN màu đỏ, biển kiểm soát 89H2-3322 của anh Phạm Văn C, sinh năm 1975 (là em rể) đến Trung tâm y tế huyện Hậu Lộc để uống Mathadone, sau đó tiếp tục đi đến nhà người quen ở xã Tr. L để chơi.
Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực quán Dốc thuộc địa phận thôn Ph. M, xã Tr. L, huyện Hậu Lộc, L phát hiện thấy chị Lê Thị Thu H2 sinh năm 1995 ở thôn Trang Các, thị trấn H. Tr, huyện Hà Trung có đeo qua vai bên phải một chiếc túi xách da màu đen, đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 36AA-060.80 di chuyển với tốc độ chậm trên quốc lộ 1A theo hướng huyện Hậu Lộc đi thành phố Thanh Hóa, nên nảy sinh ý định cướp giật chiếc túi xách của chị Hà để kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Lúc này, Hoàng Trọng L điều khiển xe di chuyển bám theo xe máy do chị H2 điều khiển. Khi đi đến khu vực đối diện đền Bà Triệu, thuộc địa phận thôn Sơn Thượng, xã Tr. L, quan sát thấy xung quanh vắng người qua lại, L tăng ga, áp sát phía bên phải xe máy của chị Hà, rồi dùng tay trái giật mạnh chiếc túi xách mà chị Hà đeo trên vai, làm chiếc túi xách bị đứt quai và chị Hà bị ngã xuống đường. Ngay khi giật được chiếc túi xách, L quay đầu xe, bỏ chạy vào đường làng thôn Phú Điền, xã Tr. L, theo đường làng chạy đến khu vực quán Dốc, rồi sau đó di chuyển ra Quốc lộ 1A và đi đến thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung. Tại đây, L mở túi xách ra kiểm tra bên trong thấy có các tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Mi5 màu xanh, 01 đăng ký xe máy, 01 thẻ ATM, 01 chứng minh nhân dân của chị Hà và số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng). L lấy số tiền trên bỏ vào túi quần đang mặc, sau đó gặp và bán chiếc điện thoại Xiaomi Mi5 cho một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) tại thị trấn Hà Trung. Sau khi bán được điện thoại, L đem chiếc túi da, bên trong có các giấy tờ trên, chôn xuống đất ở bụi chuối ven đường thuộc thôn Đ. Ph, xã Đ. L, sau đó điều khiển xe đi về nhà. Toàn bộ số tiền trên, L đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 18/3/2020, nhận thức được hành vi phạm tội của mình, Hoàng Trọng L đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Hậu Lộc đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản than.
Đối với chị Lê Thị Thu H2, khi Hoàng Trọng L giật chiếc túi xách, làm chị bị ngã xuống đường và bị gãy kín xương đòn phải, phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Hà Trung từ ngày 22/02/2020 đến ngày 26/02/2020. Cơ quan CSĐT Công an huyện Hậu Lộc đã trưng cầu giám định mức độ tổn hại % sức khỏe do thương tích gây nên đối với chị H2. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 201/2020/TTPY ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận, tại thời điểm giám định pháp y về thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Thị Thu H2 là 12% (mười hai phần trăm), trong đó:
- Chấn thương, vết thương vùng vai phải làm gãy xương đòn phải, đã được xử trí mổ kết hợp xương đòn phải, hiện tại còn di chứng hình ảnh gãy xương đòn phải còn nẹp vít cố định: 10%;
- Sẹo mổ xử lý kết hợp xương đòn đòn phải, kích thước sẹo trung bình: 02% .
Tổng chi phí điều trị theo chứng từ hợp lệ do chị Lê Thị Thu H2 cung cấp là 1.260.231đ (một triệu hai trăm sáu mươi nghìn hai trăm ba mươi mốt đồng). Quá trình điều tra, chị Lê Thị Thu H2 yêu cầu Hoàng Trọng L bồi thường số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) và chiếc điện thoại di động đã bị L chiếm đoạt. Hoàng Trọng L chưa bồi thường cho chị H2 khoản tiền nào.
Ngày 27/02/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hậu Lộc đã ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 198/ĐCSHS đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Hậu Lộc định giá đối với tài sản là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Mi5 và chiếc túi xách da màu đen mà Hoàng Trọng L đã chiếm đoạt của chị Lê Thị Thu H2. Tại Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGHS ngày 12/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND Huyện Hậu Lộc kết luận: tổng giá trị tài sản đề nghị định giá: 2.280.000đ (hai triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Mi5 có giá trị 2.160.000đ (hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng), chiếc túi xách da màu đen: 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô nhãn hiệu POMUSPACYAN màu đỏ, mang biển kiểm soát 89H2-3322 mà Hoàng Trọng L dùng làm phương tiện để cướp giật tài sản của chị H2 vào ngày 22/02/2020 là của anh Phạm Văn C sinh năm 1975 ở cùng thôn. Anh C không biết việc Hoàng Trọng L sử dụng xe mô tô của mình đi cướp giật tài sản. Cơ quan CSĐT Công an huyện Hậu Lộc đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh C, anh C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc túi da màu đen, bên trong có 01 đăng ký xe máy, 01 thẻ ATM, 01 chứng minh nhân dân của chị H2, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hậu Lộc đã thu hồi và trả lại cho chị H2, chị H2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác đối với các tài sản đã nhận.
Đối với người đàn ông không rõ tên, địa chỉ đã mua lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Mi5, do L không nhớ các đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Hậu Lộc đang tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 46/CT- VKSHL ngày 03/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Hoàng Trọng L về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định điểm d, e khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự .
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
*Áp dụng: Điểm d, e khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm a , b khoản 1 và khoản 2 Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự. Các Điều 584, 585, 589, 590 Bộ luật dân sự.
- Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
*Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trọng L từ 06 năm đến 07 năm tù, hạn tù tính ngày 18/3/2020
*Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là đối tượng nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
*Về trách nhiệm dân sự:
Thứ nhất. Buộc bị cáo phải bồi thường về tài sản chiếm đoạt cho chị Lê Thị Thu Hà giá trị 01 chiếc túi xách da mầu đen = 120.000đ giá trị chiếc điện thoại XiaomiMi5 = 2.160.000đ và số tiền 1.600.00đ, tổng cộng = 3.880.000đ
Thứ hai. Bồi thường thiệt hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện từ và phần trăm tổn thương cơ thể theo kết luận giám định về thương tích là 12%. Cụ thể là tiền thuốc, tiền viện phí và các chi phí khác trong thời gian điều trị, theo yêu cầu của chị H2 là 2.000.000đ. Tổng cộng = 5.880.000đ
Xét thấy việc đề nghị của chị Hà là hoàn toàn phù hợp với thời gian chị điều trị tại bệnh viện và thương tích mà bị cáo đã gây ra cho chị H2, phù hợp với thực tế và pháp luật, HĐXX chấp nhận. Buộc buộc bị cáo phải bồi thường chị chị Hà toàn bộ số tiên trên. Tổng cộng hai khoản 5.880.000đ
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời nhận tộicủa bị cáo tại phiên toà, lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm và tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 09 giờ ngày 22/02/2020, trên Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Sơn Thượng, xã Tr. L, huyện Hậu Lộc, Hoàng Trọng L điều khiển xe mô tô (dùng thủ đoạn nguy hiểm) áp sát chị Lê Thị Thu H2 đang điều khiển xe máy, dùng tay giật chiếc túi xách da màu đen chị H2 đeo ở vai bên phải, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Mi5, một số giấy tờ và số tiền 1.600.000đ, tổng giá trị 3.880.000đ (Ba triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) rồi nhanh chóng tẩu thoát. Khi Hoàng Trọng L giật chiếc túi xách, làm chị H2 bị ngã xuống đường, gãy kín xương đòn phải và bị tổn hại 12% sức khỏe.
Như vậy Cáo trạng số 46/CT- VKSHL ngày 03/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Hoàng Trọng L về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ vụ án thấy rằng: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản và sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm hại đến trật tự trị án và an toàn xã hội, do vậy cần phải xử lý bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện và làm bài học giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo thấy rằng.
-Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội đến ngày 18/3/2020 bị cáo ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
-Về tình tiết tăng nặng: Ngày 29/11/2000 bị TAND huyện Hậu Lộc xử phạt 54 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành xong phần án phí hình sự, nên bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
-Về nhân thân: Ngày 10/10/1998 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong bản án.
Căn cứ tính chất mức độ phạm tội và đặc điểm nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là đối tượng nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Thứ nhất. Buộc bị cáo phải bồi thường về tài sản chiếm đoạt cho chị Lê Thị Thu H2 giá trị 01 chiếc túi xách da mầu đen = 120.000đ giá trị chiếc điện thoại XiaomiMi5 = 2.160.000đ và số tiền 1.600.00đ, tổng cộng = 3.880.000đ
Thứ hai. Bồi thường thiệt hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện từ và phần trăm tổn thương cơ thể theo kết luận giám định về thương tích là 12%. Cụ thể là tiền thuốc, tiền viện phí và các chi phí khác trong thời gian điều trị, theo yêu cầu của chị H2 là 2.000.000đ.
Xét thấy việc đề nghị của chị Hà là hoàn toàn phù hợp với thời gian chị điều trị tại bệnh viện và thương tích mà bị cáo đã gây ra cho chị, phù hợp với thực tế và pháp luật, HĐXX chấp nhận. Buộc bị cáo phải bồi thường chị chị H2 toàn bộ số tiên trên. Tổng cộng hai khoản 5.880.000đ
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
*Áp dụng: Điểm d, e khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 ; Khoản 1, 2 Điều 48; Bộ luật hình sự.
- Điều 584, 585, 589, 590 Bộ luật dân sự.
- Điều 136; Điều 331 ; 333 ; 337 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí và Lệ phí Tòa án.
*Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Trọng L phạm tội “ Cướp giật tài sản”.
*Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trọng L 06 (sáu) năm, 06 (sáu) tháng tù, hạn tù tính ngày 18/3/2020
*Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Trọng L phải bồi thương cho chị Lê Thị Thu H2 gồm:
* Giá trị 01 chiếc túi xách da mầu đen = 120.000đ ; 0 chiếc điện thoại XiaomiMi5 giá trị = 2.160.000đ và số tiền 1.600.00đ, cộng = 3.880.000đ
* Tiền thuốc, viện phí và các chi phí khác = 2.000.000đ. Tổng cộng hai khoản = 5.880.000đ.
*Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Trọng L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí DSST.
*Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
*Kể từ ngày án có hiệu L pháp luật, những người được thi hành án có đơn yêu cầu Thi hành án nếu các bị cáo không nộp khoản tiền bồi thường trên thì hàng tháng các bị cáo phải chịu thêm mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
*Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận - VKSND huyện Hậu Lộc; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện Hậu Lộc; - THADS huyện Hậu Lộc; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã Ký) Nguyễn Xuân Chuyên |