vanban.org

Bản án 47/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Vũ C phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Phạm Vũ C 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2019. Về trách nhiệm dân sự : Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại ông Danh C1 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Vũ C phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2020/HS-ST
Ngày 10/3/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Diệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Xẹt;

Bà Huỳnh Thị Lượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 40/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:

Phạm Vũ C, sinh năm 1990, tại Sóc Trăng; nơi đăng ký HKTT: Ấp Lương Văn Huỳnh, xã Ngọc Tố, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 06/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn H và bà Dương Thị H1; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 02/11/2019, bị Công an phường Uyên Hưng thị xã Tân Uyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/11/2019 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Danh C1, sinh năm 1987; thường trú: Ấp Gò Công, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Nhà trọ ông Bùi Hoàng Dũng, khu phố Ông Đông, phường Tân Hiệp, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có mặt.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài li u có trong h s v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/11/2019 Công an xã Hội Nghĩa phối hợp Công an thị xã Tân Uyên tiến hành tuần tra trên địa bàn xã Hội Nghĩa, khi đến trước nhà nghỉ Thùy Trang thuộc ấp 1, xã Hội Nghĩa, thị xã Tân Uyên phát hiện Phạm Vũ C có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện C có giấy tờ tùy thân của người khác nên mời về trụ sở Công an xã Hội Nghĩa làm việc. Qua làm việc C khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Phạm Vũ C tạm trú tại dãy nhà B, Cư xá Hưng Lợi 2 thuộc khu phố 7, phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20/11/2019, do không có tiền tiêu xài nên C điều khiển xe đạp đi vòng quanh các dãy nhà thuộc Cư xá Hưng Lợi 2, khu phố 7, phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tìm tài sản của người khác để trộm cắp; C đến dãy nhà R và nhìn thấy phòng số 18, lầu 01 của ông Trần Thanh Truyền (sinh năm 1993, HKTT: Xã Thạnh Hòa, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang) bật đèn sáng nên C điều khiển xe đạp đến dựng xe ở gần dãy nhà Q, C đi bộ đến dãy nhà R và lên tầng trệt đến phòng số 18 của ông Truyền. C nhìn thấy cửa phòng trọ của ông Truyền khép hờ nên đi vào leo lên gác phòng trọ, C thấy ông Truyền đang ngủ, bên cạnh có để 01 cái bóp bên trong có số tiền 1.800.000 đồng, 01 giấy đăng ký xe số 0092965, giấy chứng minh nhân dân và thẻ bảo hiểm y tế mang tên Trần Thanh Truyền. C mở bóp ra lấy số tiền 1.800.000 đồng và giấy tờ cá nhân của Truyền. Sau đó C đi xuống gác nhìn thấy phía trên loa kéo di động trong phòng của ông Truyền có 01 cái ví da màu đen bên trong có 01 chứng minh nhân dân và 01 thẻ ATM của ông Huỳnh Thanh Huy (sinh năm 1992, HKTT: Xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang) nên C lấy tiền và giấy tờ của ông Truyền bỏ vào ví da của ông Huy, sau đó cất vào túi quần phía sau bên phải . Sau khi chiếm đoạt tài sản của ông Huy và ông Truyền, C điều khiển xe đạp đến nhà nghỉ Thùy Trang thuộc ấp 1, xã Hội Nghĩa, thị xã Tân Uyên nhằm mục đích thuê phòng để ngủ qua đêm.

Ngoài ra, C còn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như sau: Khoảng 23 giờ ngày 16/11/2019, C đi bộ từ phòng trọ ra phía trước khu nhà trọ gặp Trường (không rõ nhân thân lai lịch). C rủ Trường đi chơi thì Trường đồng ý. C và Trường cùng nhau đi bộ đến khu vực phường Tân Hiệp, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trên đường đi do không có tiền tiêu xài cá nhân nên C rủ Trường tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp thì Trường đồng ý. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/11/2019, C và Trường đi đến khu nhà trọ của ông Bùi Hoàng Dũng thuộc khu phố Ông Đông, phường Tân Hiệp, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Lúc này C đi vào bên trong khu nhà trọ ông Dũng, Trường đứng bên ngoài để cảnh giới. Khi vào bên trong khu nhà trọ C nhìn thấy phòng trọ số 01 của ông Danh C1 cửa khép hờ không khóa nên C đẩy cửa đi vào bên trong, C nhìn thấy ông C1 đang nằm ngủ dưới nền gạch, bên cạnh có để 01 ví da bên trong có số tiền 4.000.000 đồng, C mở ví ra lấy số tiền 4.000.000 đồng, sau đó nhanh chóng đi ra ngoài. C và Trương đi tìm nơi có ánh đèn đường, C kiểm tra đếm được số tiền 4.000.000 đồng. C đưa cho Trường số tiền 300.000 đồng, số tiền còn lại 3.700.000 đồng C dùng mua ma túy để sử dụng.

Công an xã Hội Nghĩa tiến hành tạm giữ đồ vật, tài liệu do Phạm Vũ C giao nộp gồm: 01 xe đạp nhãn hiệu Hitachi; 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh Tuyền; 01 chứng minh nhân dân mang tên Huỳnh Văn Huy; 01 giấy đăng ký xe số 0092965; 01 thẻ bảo hiểm y tế Trần Thanh Truyền; 01 thẻ ATM màu vàng ngân hàng BIDV; 01 con dao bấm bằng kim loại màu đen dài 40 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 20cm, cán dao bằng kim loại màu đen dài 20cm; 01 bình xịt hơi Cy hiệu Nato màu xanh; số tiền 1.800.000 đồng và 01 cái ví da màu đen, trên ví có dòng chữ LIVE’S.

Sau khi hoàn tất hồ sơ ban đầu, Công an xã Hội Nghĩa đã chuyển toàn bộ hồ sơ cùng vật chứng, tài liệu đồ vật liên quan đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 338/KLTS – TTHS ngày 20/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Tân Uyên kết luận: 01 cái ví da màu đen, trên ví có dòng chữ LIVE’S, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 50.000 đồng.

Ngày 20/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 28 trả lại cho ông Trần Thanh Truyền số tiền 1.800.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy đăng ký xe số 0092965, 01 thẻ bảo hiểm y tế cho ông Trần Thanh Truyền; trả lại cho ông Huỳnh Thanh Huy 01 cái ví da màu đen, trên ví có dòng chữ LIVE’S, 01 chứng minh nhân dân, 01 thẻ ATM màu vàng của ngân hàng BIDV.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo vào ngày 19/11/2019, do tài sản chiếm đoạt chưa đủ định lượng để để truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 16/01/2020, Công an thị xã Tân Uyên ban hành Quyết định số 01/CTU-QĐXPHC xử phạt hành chính đối với bị cáo.

Cáo trạng số 42/CT-VKS-TU ngày 10/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Phạm Vũ C về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Vũ C từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 584 và 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Phạm Vũ C phải bồi thường cho bị hại Danh C1 4.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe đạp, tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm và 01 bình xịt hơi Cy.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại ông Danh C1 4.000.000 đồng.

Bị hại ông Danh C1 trình bày: Ngày 17/11/2019, bị cáo có hành vi chiếm đoạt của ông C1 4.000.000 đồng. Ông C1 yêu cầu bị cáo bồi thường 4.000.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NH N ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Vũ C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 17/11/2019, lợi dụng sơ hở của bị hại ông Danh C1 trong việc quản lý tài sản, bị cáo cùng đồng phạm đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại ông Danh C1 số tiền 4.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 42/CT-VKS-TU ngày 10/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3 Hành vi trên đây của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam và vì động cơ tư lợi nên đã cố ý phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt của bị hại ông Danh C1 4.000.000 đồng nên bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại. Bị hại ông Danh C1 yêu cầu bị cáo bồi thường 4.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận .

[9 Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với xe đạp nhãn hiệu Hitachi, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với con dao bấm và bình xịt hơi Cy, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với đối tượng tên Trường có hành vi cùng bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt 4.000.000 đồng của bị hại ông Danh C1. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên không xác định rõ nhân thân lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau, là phù hợp.

[11] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 46, 47 và Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối Co hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Vũ C phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Phạm Vũ C 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự : Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại ông Danh C1 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe đạp nhãn hiệu Hitachi; tịch thu tiêu hủy 01 bình xịt hơi Cy hiệu Nato màu xanh, 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 24 cm, dạng dao gấp.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/3/2020)

4. Về án phí : Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ