vanban.org

Bản án 47/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 29/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu, tiêu huỷ 45ml ma túy Methadone cùng bao gói còn lại sau giám định.

Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000đ. Tịch thu, phát mại, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Nghĩa Bình đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu, tiêu huỷ 45ml ma túy Methadone cùng bao gói còn lại sau giám định.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2020/HS-ST
Ngày 29 tháng 4 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mầu Văn Mùi

Các Hội thẩm Nhân dân: Bà Đỗ Thị Nga và bà Bùi Thị Thu Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Toà án Nhân dân thành phố V

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố V tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2020/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 36/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020, đối với bị cáo:

Hoàng Nghĩa B, sinh ngày 24/02/1975; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố V, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; văn hoá: 7/12; đoàn thể: Không; con ông Hoàng Văn N

và bà Phạm Thị S; có vợ là Lê Thị H và có 02 con; quá trình hoạt động: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2019 đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1969; nơi cư trú: Khu hành chính 3, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 19/12/2019, tại cổng Bệnh viện Quân y 109, ở phường Đồng Tâm, thành phố V. Tổ công tác Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện và bắt quả tang Hoàng Nghĩa B có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng nghiện là Nguyễn Văn S. Tang vật thu giữ: Thu tại tay trái B 01 chai nhựa nhãn hiệu Lavie loại 350ml, bên trong chứa dung dịch màu hồng (B khai nhận là ma túy Methadone của B đem đi bán cho S, niêm phong ký hiệu A1), thu tại túi áo khoác bên phải B đang mặc số tiền 400.000đ (B khai nhận là tiền bán ma túy cho S mà có), tạm giữ của B 01 điện thoại Samsung đã cũ.

Ngày 20/12/2019, Công an thành phố V khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Nghĩa B tại tổ dân phố V, phường T, thành phố V nhưng không thu giữ gì.

Tại Kết luận giám định số: 2675/KLGĐ ngày 24/12/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Mẫu chất lỏng màu hồng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy lẫn tạp chất, loại Methadone. Thể tích của mẫu gửi giám định là 170ml (không kể bao bì). Methadone là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 48, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.

Tại kết luận giám định số: 2700 ngày 27/12/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Khối lượng chất ma túy Methadone có trong 170ml mẫu chất lỏng màu hồng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là 0,1683g. Hoàn lại đối tượng giám định gồm 45ml mẫu chất lỏng màu hồng cùng bao gói được niêm phong chung trong 01 hộp giấy”.

Quá trình điều tra xác định Hoàng Nghĩa B là bệnh nhân đăng ký uống Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc từ ngày 16/02/2016 đến ngày 19/12/2019; Hoàng Nghĩa B không phải là cán bộ thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc; B không có tên trong danh sách cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Y tế tỉnh Vĩnh Phúc; Bản thân Hoàng Nghĩa B không được cấp chứng chỉ hành nghề hay đào tạo, tập huấn về chuyên ngành cai nghiện ma túy.

Về nguồn gốc ma túy Methadone, quá trình điều tra B khai nhận: Trong quá trình đi uống thuốc Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc, khi được cán bộ trung tâm cấp thuốc Methadone, B chỉ uống một phần, phần còn lại B ngậm trong miệng đem về nhà cho vào chai nhựa Lavie để tích trữ, B cho thêm nước vào với mục đích bán kiếm lời.

Tại Cáo trạng số: 52/CT-VKSTPVY ngày 19/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố bị cáo Hoàng Nghĩa B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Nghĩa B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Nghĩa B từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 45ml ma túy Methadone cùng bao gói còn lại sau giám định; tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 400.000đ của bị cáo; tịch thu, bán phát mại, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung của bị cáo là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Hoàng Nghĩa B tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 19/12/2019, tại cổng Bệnh viện Q, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo Hoàng Nghĩa B có hành vi bán trái phép chất ma túy (khối lượng chất ma túy Methadone có trong 170ml mẫu chất lỏng màu hồng là 0,1683g) với giá 400.000đ cho Nguyễn Văn S thì bị Tổ công tác Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Nghĩa B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 07 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Trong vụ án này, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ là thu lời bất chính, hiện tại trên địa bàn thành phố V các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự ; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo có bố là người có công với Nhà nước được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với các người có liên quan đến vụ án: Đối với Nguyễn Văn S là người hỏi mua ma túy của bị cáo B để sử dụng, nhưng S chưa nhận được ma túy thì bị bắt quả tang nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý S về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy; đối với số tiền 400.000đ đã thu giữ của bị cáo là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước; đối với chiếc điện thoại di động Samsung thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định đó là tài sản của bị cáo sử dụng để liên lạc bán chất ma túy cho S nên cần tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Nghĩa B 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/12/2019).

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu huỷ 45ml ma túy Methadone cùng bao gói còn lại sau giám định.

- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000đ.

- Tịch thu, phát mại, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 23/3/2020).

3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Nghĩa B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ