vanban.org

Bản án 47/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 14/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T ph m tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (hai) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 22/4/2020. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T ph m tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2020/HS-ST
Ngày: 14-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng.

Ông Nguyễn Văn Vệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nữ Thu Hân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2020, t i Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/4/1994 t i Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số b, đường Ng, Tổ s, Khóm b, Phường h, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tài M và bà Chắng Lao D; Có vợ Nguyễn Thị Thùy D và một con, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt t m giam ngày 22/4/2020. Hiện đang t m giam t i tr i T m giam Công an tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo có mặt t i phiên tòa.

- Bị hại:

1. Nguyễn Thanh H, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

2. Võ Thành Tr, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chắng Lao D, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Số b, đường Ng, Tổ s, Khóm b, Phường h, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Ngọc T không có nghề nghiệp ổn định, thiếu nợ nhiều người nên nảy sinh ý định chiếm đo t tài sản của người khác lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân.

Ngày 02/01/2020, anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 2000, ngụ ấp A, xã An B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đến nhà của bị cáo t i Số b, đường Ng, Tổ s, Khóm b, Phường h, thành phố C để chơi. Bị cáo hỏi anh H mượn xe môtô Yamaha Exciter biển số 66F1-722.64 do anh H đứng tên chủ sở hữu, nói dối đi rước b n rồi quay về trả. Do là b n bè nên anh H tin tưởng cho bị cáo mượn xe. Bị cáo điều khiển xe đến Phường s, thành phố C gặp Quách Phú K, sinh năm 1987, ngụ Tổ s, Khóm b, Phường h, thành phố C để cầm cố xe với giá 32.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo mang tiền đi trả nợ và tiêu xài cá nhân hết, bị cáo nói với anh H là đã đưa xe cho b n mượn và hứa hẹn sẽ trả l i nhưng không thực hiện.

Ngày 22/02/2020, Võ Thành Tr, sinh năm 1992, ngụ ấp Đ, xã B, huyện C đến nhà bị cáo chơi, thấy Tr đeo 01 dây chuyền và 01 chiếc lắc nên bị cáo hỏi mượn đeo để chụp hình đăng lên m ng xã hội. Sau khi chụp hình xong, bị cáo nói đi mua cháo rồi sẽ về trả. Sau khi về gặp Tr, bị cáo nói dối đã mang vàng đi cầm. Ngày 23/2/2020, bị cáo mang vàng đến tiệm vàng K đường Nguyễn D, Phường h, thành phố C cầm cho ông Trần Tấn Q với số tiền 12.500.000 đồng.

Ngày 03/01/2020 và 24/02/2020 Nguyễn Thanh H và Võ Thành Tr làm đơn tố giác về hành vi chiếm đo t tài sản của bị cáo Nguyễn Ngọc T.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 15/KL.ĐGTS ngày 20/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh kết luận xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số 66F1-722.64, đã qua sử dụng có trị giá 33.000.000 đồng. Kết luận định giá tài sản số 41/KL.ĐGTS ngày 17/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh kết luận: 01 sợi dây chuyền kim lo i vàng, kiểu dây cong ống vàng 18K, có trọng lượng 02 chỉ 26,5 phân có trị giá 6.568.000 đồng và 01 lắc đeo tay bằng kim lo i vàng, kiểu mắc xích có hình con rồng vàng 18k, có trọng lượng 03 chỉ 23,5 phân có trị giá 9.381.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 48.949.000 đồng.

Ngày 23/3/2020, Công an thành phố C t m giữ 01 sợi dây chuyền, 01 lắc đeo tay và 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exiter biển số 66F1-722.64 do bà Chắng Lao D (mẹ ruột của bị cáo) chuộc l i và giao nộp. Ông Quách Phú K, Trần Tấn Q đã nhận l i đủ tiền cầm cố nên không có yêu cầu gì thêm.

Ngày 24/4/2020, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã trả l i xe môtô biển số 66F1-722.64 cho chủ sở hữu Nguyễn Thanh H và 01 sợi dây chuyền, 01 lắc đeo tay cho Võ Thành Tr. Anh H và anh Tr nhận l i đủ tài sản không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Bà D không yêu cầu bị cáo trả l i tài sản cho bà.

T i phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi ph m tội của mình như nêu trên.

Cáo tr ng số 48/CT-VKS-TPCL ngày 19/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định t i khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đưa ra quan điểm luận tội và tranh luận: Xét hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo tr ng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử ph t bị cáo Nguyễn Ngọc T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời h n tù tính từ ngày 22/4/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Bị h i đã nhận l i tài sản, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Không.

Lời nói sau cùng của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình ph t để bị cáo sớm trở về gia đình nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: T i phiên tòa vắng mặt bị h i Nguyễn Thanh H và Võ Thành Tr. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ng i cho việc xét xử và lời khai của họ đã có trong hồ sơ vụ án nên căn cứ vào Điều 292 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ t i phiên tòa.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu n i, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T thừa nhận đã thực hiện hành vi ph m tội đúng như nội dung bản Cáo tr ng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị h i, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận định giá và các chứng cứ khác được thu thập t i hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Để có tiền trả nợ và tiêu xài, bị cáo Nguyễn Ngọc T dùng lời nói và thủ đo n gian dối để chiếm đo t của anh H 01 xe môtô Yamaha Exciter, biển số 66F1-722.64 và chiếm đo t của anh Tr 01 sợi dây chuyền và 01 lắc đeo tay bằng kim lo i vàng. Như vậy, bị cáo Nguyễn Ngọc T có ý định chiếm đo t tài sản nên bằng thủ đo n gian dối đã có được tài sản trong tay và sau đó chiếm đo t tài sản là xe môtô của anh H và trang sức bằng kim lo i vàng của anh Tr với tổng giá trị các tài sản chiếm đo t là 48.949.000 đồng. Do đó, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã ph m tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội ph m và hình ph t được quy định t i khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo gây ra.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi ph m tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm ph m đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất an trong nhân dân, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi ph m pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Thiệt h i về tài sản do bị cáo gây ra khá lớn.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã chiếm đo t tài sản 02 lần, mỗi lần chiếm đo t trị giá tài sản trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng ph m tội 02 lần quy định t i điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho bị h i; các tình tiết này được quy định t i điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình ph t nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội ph m.

Về trách nhiệm dân sự: Bị h i đã nhận l i tài sản, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã trả l i tài sản cho chủ sở hữu Nguyễn Thanh H và Võ Thành Tr nên không xem xét xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T ph m tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (hai) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 22/4/2020.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị h i có quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ