vanban.org

Bản án 47/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị P và anh Nguyễn Hữu Đ.

Về nuôi con chung: Giao cả hai con chung là Nguyễn Hữu P, sinh ngày 11/5/2003 và Nguyễn Quốc N, sinh ngày 19/5/2005 cho chị Phạm Thị P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị P và anh Nguyễn Hữu Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2020/HNGĐ-ST
Ngày 16-9-2020
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Phạm Thị Bích Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hoàng Hải Bình – Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 323/2020/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 693/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 785/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị P; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 3/40 C, phường H, quận L, thành phố H; nơi ở: Số 41/2B P, phường H, quận H, thành phố H; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Đ; nơi cư trú: Số 3/40 C, phường H, quận L, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 20 tháng 6 năm 2020 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Thị P trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hữu Đ xây dựng gia đình với nhau từ năm 2002 trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/11/2002. Đến nay vợ chồng có hai con chung.

Quá trình chung sống: Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách và quan điểm sống giữa hai bên thay đổi, không còn phù hợp với nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Mặt khác, do kinh tế gia đình rất khó khăn nên cuộc sống dần dần trở nên bế tắc. Năm 2018 chị P cùng các con đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở, hai bên đã sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, chị Phạm Thị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Hữu Đ.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Hữu P, sinh ngày 11/5/2003 và Nguyễn Quốc N, sinh ngày 19/5/2005. Nay ly hôn chị P có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con đến khi các con thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị P xin được tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập cho anh Nguyễn Hữu Đ. Tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án anh Đ đều đã nhận được nhưng anh Đ không đến Tòa án làm việc và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị P, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 12/8/2020.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ với đại diện gia đình anh Nguyễn Hữu Đ và đại diện chính quyền địa phương nơi anh Đ chị P chung sống được biết: Quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn vợ chồng đỉnh điểm năm 2018, chị P cùng hai con đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay. Gia đình đã hòa giải và khuyên bảo anh chị nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị P xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: Chị P và anh Đ có hai con chung là Nguyễn Hữu P, sinh ngày 11/5/2003 và Nguyễn Quốc Nh, sinh ngày 19/5/2005, nếu anh chị ly hôn, đại diện gia đình anh Đ đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con thành niên. Về tài sản chung, đại diện gia đình anh Đ không nắm được.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Chị P và anh Đ kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, hiện tại đã sống ly thân nhau, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Phạm Thị P được ly hôn anh Nguyễn Hữu Đ; về con chung: Đề nghị giao cả hai con chung Nguyễn Hữu P, sinh ngày 11/5/2003 và Nguyễn Quốc Nh, sinh ngày 19/5/2005 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có quy định khác theo quy định của pháp luật, không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị P và anh Đ; về tài sản chung: Chị P không có yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; theo đơn khởi kiện, trình bày của đương sự thể hiện: Anh Nguyễn Hữu Đ hiện đang sinh sống tại: Số 3/40 C, phường H, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Bị đơn anh Nguyễn Hữu Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất và đã được tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt, do vậy HĐXX căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Hữu Đ.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị P và anh Nguyễn Hữu Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/11/2002, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế gia đình, đỉnh điểm vào năm 2018 chị P cùng hai con đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Hữu Đ đến Tòa án làm việc nhiều lần nhưng anh Đ đều không đến và không có ý kiến trình bày về quan điểm của mình, qua đó cho thấy anh Đ cũng không muốn níu kéo và hàn gắn tình cảm với chị P. Đồng thời qua các tài liệu xác minh thu thập chứng cứ đã xác nhận cuộc sống chung giữa anh Đ và chị P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã do bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn về kinh tế. Vợ chồng luôn xảy ra bất hoà, mất đi tiếng nói chung, cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, không còn sự chia sẻ, quan tâm đến nhau. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị P và anh Đ trên thực tế đã không còn, mâu thuẫn thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bởi vậy chị P yêu cầu được ly hôn anh Đ là phù hợp, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Hữu P, sinh ngày 11/5/2003 và Nguyễn Quốc Nh, sinh ngày 19/5/2005. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi anh chị sống ly thân đến nay cả hai cháu ở cùng mẹ. Vì vậy việc chị P có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, phù hợp với nguyện vọng của đại diện gia đình anh Đ và phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh Đ cũng không có ý kiến gì nên HĐXX không đặt ra vấn đề giải quyết.

Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

- Về án phí:

Chị Phạm Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị P và anh Nguyễn Hữu Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao cả hai con chung là Nguyễn Hữu P, sinh ngày 11/5/2003 và Nguyễn Quốc N, sinh ngày 19/5/2005 cho chị Phạm Thị P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này chị P đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013875 ngày 08 tháng 7 năm 2020.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ