vanban.org

Bản án 47/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị Bích Ng được ly hôn anh Vũ Minh T.

Về con chung: Giao con chung Vũ Tuấn Hưng, sinh ngày 20-11-2011 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Vũ Anh Quân, sinh ngày 08-12-2014 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị Bích Ng được ly hôn anh Vũ Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2020/HNGĐ-ST
Ngày 03-8-2020
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Tâm;

- Ông Nguyễn Văn Quyết;

-Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2020 về việc “ly hôn và tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23a /2020/QĐST - HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích Ng; trú tại: Số nhà 26, khu phố 1/5 thị trấn V B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Có đơn xin xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Vũ Minh T; trú tại: Số nhà 26, khu phố 1/5 thị trấn V B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích Ng trình bày: Chị và anh Vũ Minh T kết hôn với nhau tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng vào ngày 15 tháng 3 năm 2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình động viên khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2017, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Minh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Tuấn Hưng, sinh ngày 20-11-2011 và Vũ Anh Quân, sinh ngày 08-12-2014. Trường hợp ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung cho Vũ Tuấn Hưng cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Vũ Anh Quân cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh T.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Anh Vũ Minh T xác nhận về thời gian, hoàn cảnh và điều kiện kết hôn như chị Ng trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình động viên khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay chị Ng xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh xác nhận về con chung như chị Ng trình bày là đúng. Trường hợp ly hôn anh đề nghị giao con chung Vũ Anh Quân cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Vũ Tuấn Hưng cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh xin tự giải quyết với chị Ng.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn chấp hành chưa nghiêm. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Bích Ng được ly hôn với anh Vũ Minh T. Về con chung: Giao con chung Vũ Tuấn Hưng, sinh ngày 20-11-2011 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Vũ Anh Quân, sinh ngày 08-12-2014 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết. Tài sản chung không xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Vũ Minh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu phố 1/5 thị trấn V B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị Nguyễn Thị Bích Ng và anh Vũ Minh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Bích Ng và anh Vũ Minh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Bích Ng và anh Vũ Minh T.

. Về quan hệ vợ chồng: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Bích Ng và anh Vũ Minh T phát sinh từ ngày 15-3-2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Nay chị Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Ng yêu cầu được ly hôn. Anh T xác định vợ chồng có mâu thuẫn nhưng anh không đồng ý ly hôn. Qua xác minh tại địa phương thấy vợ chồng có mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó có căn cứ để xử cho chị Nguyễn Thị Bích Ng được ly hôn với anh Vũ Minh T theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Tuấn Hưng, sinh ngày 20-11-2011 và Vũ Anh Quân, sinh ngày 08-12-2014. Ly hôn hai bên thỏa thuận giao con chung Vũ Tuấn Hưng cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Vũ Anh Quân cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa xét, chị Ng và anh T đều có chỗ ở và thu nhập ổn định, cháu Vũ Tuấn Hưng có nguyện vọng muốn được ở với chị Ng nên việc thỏa thuận của hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết.

.Về tài sản chung: Không xét giải quyết.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích Ng phải chịu án phí sơ thẩm dân sự về ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình,

Căn cứ Điều 147, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị Bích Ng được ly hôn anh Vũ Minh T.

2. Về con chung: Giao con chung Vũ Tuấn Hưng, sinh ngày 20-11-2011 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Vũ Anh Quân, sinh ngày 08-12-2014 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không xét giải quyết.

4. Án phí: Chị Nguyễn Thị Bích Ng phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị Ng đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ tại Biên lai thu số 8077 ngày 21-4-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo. Chị Ng đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ