- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà H yêu cầu ly hôn ông L"
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:47/2020/HNGĐ-ST Ngày: 29-4-2020 V/v: ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Danh Tuyên
2. Bà Lê Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Giáp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2020/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13 /2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1963.
Nơi cư trú: Tổ 1, ấp 11b, xã Lộc Th, huyện L N, tỉnh B Ph. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Đặng Bá L, sinh năm 1965.
Nơi cư trú: xóm 13, xã Ng Th, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 02 năm 2020 và bản tự khai (được gửi qua đương Bưu Điện), nguyên đơn bà Ngô Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đặng Bá L lấy nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 12 tháng 11 năm 1990 tại Ủy ban nhân dân xã L Th, huyện L N, tỉnh Sông Bé. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, bà và ông L sống với nhau bình thường được một thời gian và sinh được 02 người con. Đến khoảng năm 2003 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do ông L thường xuyên uống rượu, không chăm lo cho gia đình, vợ chồng bất hòa thường xuyên cãi nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng ngày càng không hạnh phúc, đã sống ly thân từ đầu năm 2004 đến 2006 thì ông L bỏ về quê ở Ng L và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng với bà từ đó cho đến nay, cả hai không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay bà H xác định không còn tình cảm với ông L nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Quá trình bà và ông L chung sống có 02 con chung, Đặng Duy Kh, sinh năm 1992 và cháu Đặng Thị Ngọc Á, sinh năm 1999. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, sống khỏe mạnh không phụ thuộc vào bố mẹ nên ly hôn bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Ngô Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 13 tháng 02 năm 2020, bị đơn ông Đặng Bá L trình bày:
Về hôn nhân: ông L thừa nhận thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn đúng như bà H đã trình bày. Sau khi kết hôn, ông và bà H chung sống hạnh phúc, đến năm 2003 thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi vã lẫn nhau. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẩn gia đình ngày càng căng thẳng nên đã sống ly thân từ năm 2004 cho đến nay, ông đã về quê sinh sống, còn bà H và các con đang sống tại huyện L N nên ông xác định tình cảm vợ chồng giữa ông và bà H không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Vì vậy, nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Ông và bà H có 02 con chung đó là Đặng Duy Kh, sinh năm 1992 và cháu Đặng Thị Ngọc Á, sinh năm 1999. Hiện nay các cháu đang sống cùng với bà H, con chung đều đã trưởng thành, sống khỏe mạnh không phụ thuộc vào bố mẹ nên ly hôn ông không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: ông Đặng Bá L không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn là cho bà Ngô Thị H được ly hôn ông Đặng Bá L. Về tài sản cả bà H và ông L đều không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.
Về án phí: bà Ngô Thị H là người bị tàn tật nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An nhận định:
1. Về tố tụng:
Bà Ngô Thị H có đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông Đặng Bá L. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giải quyết là đúng thẩm quyền.
Bà Ngô Thị H có đơn yêu cầu được vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, phiên toà xét xử. Ông Đặng Bá L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc không tiến hành hoà giải được và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông L tại phiên toà là phù hợp với quy định tại Điều 207 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Ngô Thị H và ông Đặng Bá L là hôn nhân hợp pháp, không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn thầy tình trạng hôn nhân ông bà có cơ sở khẳng định bà H và ông L không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc nhau từ năm 2006 cho đến nay. Như vậy, hôn nhân giữa bà H và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ cho bà H và ông L ly hôn theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: các con chung đều đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: bà Ngô Thị H và ông Đặng Bá L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Do bà Ngô Thị H là người khuyết tật có Giấy chứng nhận khuyết tật được Ủy ban nhân dân xã L Th xác nhân nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa bà Ngô Thị H và ông Đặng Bá L
2. Về con chung: không xem xét giải quyết.
3. Về chia tài sản, nợ chung: không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Ngô Thị H.
5. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Nghi Lộc; - Chi cục THADS huyện Nghi Lộc; - UBND xã L Th; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hải Dương |