vanban.org

Bản án 47/2020/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ trả số tiền 6.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P đối với bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ. Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền 24.800.000đ (Hai mươi bốn triệu, tám trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P và bị đơn bà Nguyễn Thị T, ông Bùi Rạng Đ"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ trả số tiền 6.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2020/DS-ST
Ngày: 25 – 12 – 2020
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN NHÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Từ Văn Nhứt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lại Thiện Phong;

2. Bà Ngô Hồng Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Mao - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2020/TLST–DS, ngày 01 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2020/QĐXXST–HNGĐ, ngày 04 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1965

Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

2. Đồng bị đơn: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977 và ông Bùi Rạng Đ, sinh năm 1972

Cùng địa chỉ: ấp C, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

(Nguyên đơn có mặt; Đồng bị đơn ông Bùi Rạng Đ và bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Lời trình bày của bà Nguyễn Thị P trong đơn khởi kiện ngày 30/9/2020 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay như sau:

Ngày 30 tháng 9 năm 2015 bà Nguyễn Thị T có làm chủ 03 dây hụi, hụi 1.000.000đ/tháng, bà P có tham gia chơi 02 chân, trong dây hụi có tất cả 24 phần, trong đó có 21 hụi viên tham gia, bà P đã đóng hụi được 22 kỳ thì bà T tuyên bố bể hụi, dây hụi này còn 02 kỳ nữa là mãng hụi. (Trong bản án hình sự số 10 ngày 21 tháng 5 năm 2020 phần 03 dây hụi không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà T thì đây là dây hụi thứ nhất và thứ ba). Hai chân hụi này nếu như bà P hốt sẽ được số tiền 44.000.000đ, nhưng đến nay thì bà T vẫn chưa có trả số tiền này cho bà P. Trước đây, trong vụ án hình sự các hụi viên và bà T đã thỏa thuận 70% trên tổng số tiền hụi này, nên nay bà Nguyễn Thị P yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị T và chồng là ông Bùi Rạng Đ cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà P số tiền 30.800.000đ, bà P không có yêu cầu tính lãi suất phát sinh.

Tại đơn yêu cầu xin rút lại một phần đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2020 bà Nguyễn Thị P yêu cầu bà Nguyễn Thị T và chồng là ông Bùi Rạng Đ cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà P số tiền 24.800.000đ, không có yêu cầu tính lãi suất phát sinh. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác

Tại biên các bản lấy lời khai đề ngày 02/10/2020 và ngày 04/12/2020 đồng bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị T thừa nhận có làm chủ hụi, bà Nguyễn Thị P có tham gia chơi 02 chân, số tiền hai chưng hụi này nếu như bà P được hốt sẽ được 44.000.000đ, bà T đồng ý thỏa thuận 70% trên tổng số tiền hụi đã thiếu bà P. Trước đó, bà P còn thiếu bà số tiền 6.000.000đ nay bà P trừ lại và rút một phần đơn khởi kiện bà chỉ yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị T và chồng là ông Bùi Rạng Đ cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà P số tiền 24.800.000đ và không có yêu cầu tính lãi suất phát sinh thì bà T đồng ý. Do hiện tại bà Nguyễn Thị T đang bị tạm giam, vụ án cũng đã rõ, bà T cũng không có tài liệu, chứng cứ gì mới nên bà có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.

Tại biên các bản lấy lời khai đề ngày 20/10/2020, 10/11/2020 và biên bản lấy lời khai ngày 27/10/2020 đồng bị đơn ông Bùi Rạng Đ trình bày: ông là chồng của bà Nguyễn Thị T, ông thừa nhận là ông có biết việc bà T có làm chủ hụi, và bà Nguyễn Thị P có tham gia chơi hụi với bà T. Tuy nhiên, số tiền chơi hụi giữa bà T và bà P như thế nào thì ông không biết, ông Đ có ý kiến để khi nào bà T ra tù sẽ trả tiền hụi cho bà P, còn ông Đ thì không có liên quan gì đến việc chơi hụi này. Trước đây khi bà T và bà P tham gia chơi hụi thì có khi bà T bận công việc nên có mượn ông đi gom hụi giúp một hai lần, ông Đ chỉ đi gom hụi thay cho bà T chứ việc chơi hụi như thế nào thì ông không biết. Nay bà Nguyễn Thị P yêu cầu bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà P số tiền 24.800.000đ và không có yêu cầu tính lãi suất phát sinh thì ông Bùi Rạng Đ không đồng ý. Ngoài ra, ông không có ý kiến yêu cầu gì khác.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Kiểm sát viên đã nhận định và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị P đối với số tiền 6.000.000đ.

+ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền 24.800.000đ (Hai mươi bốn triệu, tám trăm nghìn đồng).

- Về án phí:

+ Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 1.240.000đ;

+ Bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị P khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ có trách nhiệm liên đới trả tiền nợ hụi nên căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về tranh chấp giao dịch dân sự là đúng quy định. Đồng thời bị đơn cư trú tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đồng bị đơn bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị T.

Về nội dung vụ án

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P yêu cầu bà Nguyễn Thị T và chồng là ông Bùi Rạng Đ có trách nhiệm liên đới trả cho bà P số tiền hụi là 24.800.000đ và không có yêu cầu tính lãi suất phát sinh.

Hội đồng xét xử, xét thấy:

Ngày 30 tháng 9 năm 2015 AL (nhằm ngày 11/11/2015 dương lịch) bà Nguyễn Thị T có làm chủ 03 dây hụi, hụi 1.000.000đ/tháng, bà P có tham gia chơi 02 chân, dây hụi có tất cả 24 phần, trong đó có 21 hụi viên tham gia, bà P đã đóng hụi được 22 kỳ thì bà T tuyên bố bể hụi, sự việc này có xảy ra trên thực tế vì đã được các đương sự thừa nhận - Đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2, Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Nếu hai chân hụi này bà P hốt sẽ được số tiền 44.000.000đ, nhưng nay bà Nguyễn Thị P yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả số tiền 24.800.000đ, không có yêu cầu tính lãi suất phát sinh thì bà T đồng ý, xét thấy: đây là ý chí tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với yêu cầu ông Bùi Rạng Đ là chồng của bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm liên đới trả số tiền hụi cho bà Nguyễn Thị P, Hội đồng xét thấy: Ông Bùi Rạng Đ là chồng của bà T, ông Đ cho rằng ông không có liên quan gì đến vụ án, cũng không biết gì về số tiền chơi hụi giữa bà T và các hụi viên là như thế nào. Tuy nhiên, ông Đ biết việc bà T và bà Nguyễn Thị P có tham gia chơi hụi do bà T làm chủ hụi, ông cũng thừa nhận có một vài lần trực tiếp nhận tiền hụi từ các hụi viên (Đi gom hụi thay cho bà T). Từ đó, có căn cứ xác định ông Bùi Rạng Đ có liên quan đến việc chơi hụi giữa bà Nguyễn Thị T và các hụi viên. Do đó, cần buộc ông Bùi Rạng Đ phải có nghĩa vụ liên đới cùng với bà Nguyễn Thị T trả số nợ hụi cho bà Nguyễn Thị P.

Ngày 01 tháng 10 năm 2020 bà Nguyễn Thị P có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 6.000.000đ. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của bà Nguyễn Thị P và phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật dân sự, Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá gạch:

- Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật là 24.800.000đ x 5% = 1.240.000đ.

- Bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2, Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Căn cứ Nghị định 144/2006/NĐ-CP, ngày 27 tháng 11 năm 2006 về họ, hụi, biêu, phường;

- Căn cứ Điền 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ các Điều 2, 6, 7, 7a, 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ trả số tiền 6.000.000đ.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P đối với bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ.

Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền 24.800.000đ (Hai mươi bốn triệu, tám trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất với số tiền chậm thi hành án theo qui định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

- Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Rạng Đ phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 1.240.000đ;

- Bà Nguyễn Thị P đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí 770.000đ (Bảy trăm, bảy mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003235 ngày 01 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân sẽ được hoàn trả lại khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ