- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "Ông Đinh Văn T và bà Thạch Thị Sà E"
- Tòa quyết gì? C n cứ: Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 203 Luật đất đai; Điều 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án…
| HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2020/DS-ST. Ngày 19/11/2020 V/v “Tranh chấp thừa kế”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Tr n V n Dá.
- Ông V Tấn Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Ni – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Tr ng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn V n Cường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 11 n m 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Tr ng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2019/TLST-DS ngày 02/8/2019 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2020/QĐXX-ST ngày 09/10/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đinh V n T, sinh n m 1970.
Địa chỉ: số 2XX ấp L, thị trấn P, huyện T, Sóc Tr ng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Dương Phấn K, sinh n m 1990, địa chỉ: số 3XX/XX, khóm A, phường N, thành phố S, tỉnh Sóc Tr ng. ông K có m t
- Bị đơn: Bà Thạch Thị Sà E, sinh n m 1962. vắng m t
Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Sóc Tr ng.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Tr n V n G, sinh n m 1961. vắng m t
2. Ông Ngô Hùng P, sinh n m 1965.
3. Bà Tr n Ngọc D, sinh n m 1965.
Bà D ủy quyền cho ông P theo v n ản ủy quyền ngày 27/7/2020, ông P có đơn đề nghị xử vắng m t .
4. Ông Đinh H, sinh n m 1992. vắng m t
5. Bà Đỗ Thị Kim N, sinh n m 1989. vắng m t
C ng địa chỉ: p A, xã N, huyện T, tỉnh Sóc Tr ng.
6. Ông Tr n Minh A, sinh n m 1987. vắng m t
7. Ông Tr n Minh C, sinh n m 1996. vắng m t
8. Bà Tr n Thị B, sinh n m 1993. vắng m t
9. Bà Tr n Thị F, sinh n m 1999. vắng m t
C ng địa chỉ: p A, xã N, huyện T, tỉnh Sóc Tr ng.
10. Ông Tr n V n S, sinh n m 1959. vắng m t
11. Bà Tr n Thị L, sinh n m 1963. vắng m t
12. Bà Tr n Thị O, sinh n m 1976. vắng m t
13. Ông Tr n Y. vắng m t
C ng địa chỉ: p A, xã N, huyện T, tỉnh Sóc Tr ng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 8 năm 2018 cũng như tại phiên toà sơ thẩm người đại diện c a nguyên đơn ông Đinh Văn T trình bày:
N m 2016 ông có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông P, bà D chiều ngang 8,1m, chiều dài 30,5m, ông là người trực tiếp giao dịch với ông P, khi làm hợp đồng để chuyển quyền sử dụng đất thì ông để cho con ông đứng tên chuyển nhượng một ph n diện tích đất là ngang 4,1m, còn ông thì đứng tên hợp đồng chuyển nhượng ph n còn lại chiều ngang là 4m. Ông được cấp quyền sử dụng tại thửa 952 diện tích 122m2, còn con ông là Đinh H được cấp quyền sử dụng tại thửa 953 diện tích 125m2. Đất của ông là giáp với đất à E, khi chuyển nhượng có cậm cọc, à E c ng thống nhất vị trí cậm cọc, sau đó ông T san lắp m t ằng và không r nguyên nhân vì sao cọc phía trước ị mất, ông T làm hàng rào thì bà E ra ng n cản cho rằng đã lấn sang đất à E.
Trước đây ông T khởi kiện yêu c u trả cho ông chiều ngang 1,5m dài 25m, nay tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của ông T r t lại một ph n yêu c u khởi kiện, yêu c u Tòa án giải quyết uộc à E và ông G giao trả đất tranh chấp chiều ngang c p Quốc lộ X là 0,54m, chiều dài một cạnh 9,14m, một cạnh 9,06m (từ lộ vô đến vị trí điểm gốc dừa, hình tam giác).
Bị đơn bà Thạch Thị Sà E có lời khai:
Đất à giáp ranh với đất ông P, nguồn gốc đất là đất của cha mẹ chồng là bà Sơn Thị U và ông Tr n Ê (ông Ê và bà U đều đã chết , đất do à U đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, cách nay khoảng hơn 10 n m à có chuyển nhượng cho ông P cái mương giáp ranh, không iết diện tích ao nhiêu, giá 1.500.000 đồng, đất giữa hai ên có ranh r ràng, phía sau là hàng ình át, phía trước là cây dừa. Khi ông P chuyển nhượng lại cho ông T à có chỉ ranh đến cây dừa.
Bà không đồng ý trả đất theo yêu c u ông T vì đất tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của à, à không có lấn chiếm đất của ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Hùng P và bà Trần Ngọc D do ông P là người đại diện trình bày ý kiến:
Trước đây ông có một ph n đất giáp ranh với đất à E, đất giữa hai bên có cái mương làm ranh, cái mương là của ông còn từ ờ mương trở qua đất à E là của à E. Đất của ông chiều ngang khoảng 20m, ông chuyển nhượng cho nhiều người, đến n m 2016 ông mới chuyển nhượng ph n còn lại cho ông T, lúc hai ên thỏa thuận chuyển nhượng không có đo diện tích cụ thể, chỉ có nói là ranh bên ông là tới mé mương và ước lượng chiều ngang thửa đất là khoảng 7,8m nhưng chỉ tính 7,5m, chiều dài khoảng 30m, giá 1m ngang là 20.000.000 đồng. lý do ph n đất ông với đất à E chưa cậm ranh r ràng, cây mọc um t m nên không đo đạc được diện tích chính xác, mương là của ông còn ờ mương là đất à E. Khi địa chính đo đạc cấp quyền sử dụng đất ông không r diện tích cụ thể ao nhiêu, lý do trước đó ông và ông T đã thống nhất chỉ tính tiến 7,5m, coi như đã thống nhất giá tiền của lô đất chuyển nhượng xem như án mão lô đất , do đó ông không quan tâm số đo cụ thể, khi đó các ên thống nhất ranh và có cậm cọc làm ranh, có m t à E, khi ông T xây dựng san lắp m t ằng nên mất hiện trạng con mương. Theo kết quả thẩm định đất, ông thống nhất gốc dừa thẩm định đ ng là ranh giữa hai ên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh H và bà Đỗ Thị Kim N: Không có văn bản trình bày ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn S có lời khai: Trước đây cha mẹ của ông là à Sơn Thị U và ông Tr n Ê (ông Ê và bà U đều đã chết có một ph n đất giáp với đất ông P, hiện nay do vợ chồng ông G, à E sử dụng, cha mẹ chết không có di ch c, các anh chị em của ông sau đó có tranh chấp và được ấp hòa giải thống nhất chia ph n đất giáp ông P hiện vợ chồng à E, ông G sử dụng là chia cho ông G. Ông không có ý kiến gì về việc tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Y, bà Trần Thị O, bà Trần Thị L: Không có lời khai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh A, ông Trần Minh C, bà Trần Thị B, bà Trần Thị F: Không có văn bản trình bày ý kiến.
Quan điểm kiểm sát c a đại diện Viện kiểm sát như sau:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi kết th c ph n tranh luận tại phiên tòa xét xử, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đ y đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Qua chứng cứ và kết quả tranh tụng tại Tòa có cơ sở xác định yêu c u khởi kiện của nguyên đơn là có c n cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn, uộc ị đơn giao trả đất tranh chấp và ị đơn phải chịu án phí, chi phí thẩm định, định giá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn r t một ph n yêu c u khởi kiện, theo đơn khởi kiện yêu c u uộc trả ngang 1,5m dài 25m, nay chỉ yêu c u ị đơn giao trả đất tranh chấp chiều ngang giáp lộ là 0,54m dài một cạnh 9,14m, một cạnh 9,06m tính từ lộ vô đến vị trí gốc dừa, hình tam giác), Hội đồng xét xử xét thấy việc r t một ph n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyên, ph hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
Nguyên đơn ông Đinh V n T yêu c u ị đơn à Thạch Thị Sà E giao trả đất tranh chấp chiều ngang giáp lộ là 0,54m dài một canh 9,14m, một cạnh 9,06m hình tam giác), lý do ông T cho rằng ông nhận chuyển nhượng đất của ông Ngô H ng P chiều ngang 8,1m, sau khi chuyển nhượng đã làm thủ tục đứng tên quyền sử dụng đất ao gồm thửa 953 do con ông T là ông Đinh H đứng tên, thửa 952 do ông T đứng tên, đất hiện nay do ông H sử dụng, khi ông làm hàng rào thì à E ng n cản cho rằng lấn sang đất à E và cậm cọc lấn ranh qua đất của ông. Ngược lại à E trình ày đât tranh chấp là của à được mẹ chồng là à Sơn Thị U cho, trước đây à có chuyển nhượng cho ông P cái mương, ph n mương là của ông P còn từ ờ mương trở về là đất của à, ông T đã san lắp m t ằng và làm hàng rào lấn sang đất à nên à không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy qua kết quả thẩm đinh thửa 953, 952 t ng số đo thực tế chiều ngang phía sau của hai thửa là 8,33m, chiều ngang phía trước giáp lộ là 6,76m, ở vị trí phía trước, cạnh giáp đất à E là ông P, ông T, à E đều xác nhận gốc dừa là của à E. Ông P, à E xác định đây là vị trí làm ranh giữa hai ên, do à E chỉ chuyển nhượng cho ông đến mé mương còn ờ mương là của à E. Tòa án c ng đã tiến hành lấy lời khai người được ông T thuê cậm trụ đá, ông c ng xác định khi đo đạc đất chuyển nhượng và thuê ông cậm trụ đá là à E không đồng ý cho cậm trên ờ mương vì ờ là của à, nên trụ đá cậm sát mé mương. Tuy nhiên do san lắp m t ằng hiện trạng mương không còn. Từ những c n cứ trên, Hội đồng xét xử kết luận vị trí gốc dừa theo iên ản thẩm định ngày 19/3/1019 chính là ranh giữa thửa đất 543 và 952 là đ ng. Kết quả thẩm định chiều ngang thửa 953, 952 từ phía giáp đất à Q đến vị trí gốc dừa là ranh có số đo 7,30m. Như vậy có c n cứ xác định chiều ngang của cả hai thửa 953, 952 giáp lộ có t ng số đo là 7,30m chứ không phải 8,1m theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên hiện nay à E xác định ranh giới của cả hai thửa 953, 952 giáp lộ chỉ ở vị trí 6,76m và ng n cản ông T sử dụng đất vượt phạm vi 6,76m nêu trên là chưa đ ng. Do đó ông T khởi kiện yêu c u à E giao trả 0,54m là có c n cứ.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy đất à E trình ày đất của à có nguồn gốc là của à Sơn Thị U và ông Thạch Ê cho vợ chồng à, khi Tòa án thẩm định à không cho đo đất nên Tòa án không tiến hành thẩm định được diện tích à E sử dụng, kết quả trích lục hồ sơ cấp quyền sử dụng đất, đối chiếu sơ đồ cấp đất thửa 952 cho thấy ph n đất à E sử dụng là thửa 543, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng do hộ à Sơn Thị U đứng tên ngày 13/12/2001, qua kết quả xác minh cho thấy à U và ông Ê đã chết, con của à U và ông Ê là ông Tr n V n S trình ày đất tranh chấp là đất của à U, ông Ê và được chia cho các người con, trong đó ph n giáp với ông P là chia cho vợ chồng à E, ông G, các người con khác của à U và ông Ê c ng không ai có ý kiến gì. Hội đồng xét xử xét thấy đất tranh chấp tuy có nguồn gốc là của à U và ông Ê, tuy nhiên vợ chồng à E là người được cho đất nên việc à E, ông G chuyển nhượng cái mương cho ông P, ông P chuyển nhượng lại cho ông T và hiện nay đất ông T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 952 ao gồm ph n con mương đã chuyển nhượng là ph hợp quy định pháp luật. Do vậy c n uộc ông G, à E và anh C con à E là người trực tiếp sử dụng đất giao trả diện tích đất tranh chấp cho ông T.
4 Do yêu c u khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên à E và ông G phải chịu án phí và chi phí thẩm định, định giá.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ: Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 203 Luật đất đai; Điều 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc à Thạch Thị Sà E, ông Tr n V n G, ông Tr n Minh C giao trả cho ông Đinh V n T diện tích đất tranh chấp 2,4m2, thửa 952, tờ ản đồ số 4, tọa lạc ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Sóc Tr ng do ông Đinh V n T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 19/02/2016, vào s cấp giấy số CS04667. Tứ cạnh:
- Hướng Đông giáp thửa 543có số đo 9,06m,
- Hướng Tây giáp ph n đất còn lại thửa 952 có số đo 9,14m,
- Hướng Nam giáp Quốc lộ X có số đo 0,54m.
- Hướng Bắc là một điểm.
n phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định, định giá: Buộc à Thạch Thị Sà E và ông Tr n V n G liên đới nộp án phí là 300.000 đồng và chịu chi phí thẩm định, định giá là 6.725.000 đồng.
Hoàn trả ông Đinh V n T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo iên lai thu số 0003272 ngày 02/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị.
Hoàn trả ông Đinh V n T số tiền tạm ứng chi phí thẩm định, định giá đã nộp 8.125.000 đồng nhận tại Tòa án là 1.400.000 đồng và nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự 6.725.000 đồng sau khi ông G, à E nộp chi phí thẩm định, định giá).
Báo cho các đương sự iết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng m t kể từ ngày nhận được ản án ho c ngày niêm yết ản án tại nơi cư tr để yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Tr ng xét xử ph c thẩm theo quy định pháp luật.
Trường hợp ản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Tr ng; - VKSND huyện Thạnh Trị; - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Trịnh Thị Bích Phượng |