- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "BADSPT Lương Thị T - Lương Xuân H"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2019/DS-ST, ngày 21-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 166 Luật Đất đai; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2020/DS-PT Ngày 24-7-2020 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời cây trên đất, yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Đức Trí
Các Thẩm phán: Ông Lộc Sơn Thái
Ông Chu Long Kiếm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Th Ph ng - Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lăng Th H ơng- Kiểm sát viên.
Các ngày 16, 23, 24 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2020/TLPT-DS, ngày 09 tháng 01 năm 2020 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời cây trên đất, yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2019/DS-ST, ngày 21 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 40/2020/QĐ-PT ngày 10 tháng 3 năm 2020, Thông báo về việc chuyển ngày xét xử số: 11/TB-TA ngày 13 tháng 3 năm 2020, Thông báo về việc chuyển ngày xét xử số: 50/TB-TA ngày 13 tháng 3 năm 2020; Quyết đ nh hoãn phiên tòa phúc thẩm số 52/2020/QĐ-PT ngày 29 tháng 4 năm 2020; Quyết đ nh tạm ngừng phiên tòa số 12a/2020/QĐPT-DS ngày 29-5-2020 và Quyết đ nh hoãn phiên tòa phúc thẩm số 70/2020/QĐ-PT ngày 26-6-2020, giữa các đ ơng sự:
- Nguyên đơn: Bà L ơng Th Th; c trú tại: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh L ơng Xuân H; c trú tại: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (Văn bản ủy quyền ngày 07/7/2019), có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L ơng Th Th là ông L ơng Văn Ch, Tr giúp viên pháp lý của Trung tâm T Nhà n ớc tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
- Bị đơn: Ông L ơng Xuân Ha; c trú tại: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện B. Đại diện theo ủy quyền ông Trần Nam S - Tr ởng phòng T huyện B, tỉnh Lạng Sơn (Văn bản ủy quyền số 1260/UB-QĐND ngày 23/10/2019 của chủ t ch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn), có mặt
2. Anh L ơng Xuân H;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh L ơng Xuân H là ông L ơng Văn Ch - Tr giúp viên pháp lý, Trung tâm tr giúp pháp lý Nhà n ớc tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
3. Anh L ơng Xuân H, vắng mặt,
4. Ch L ơng Th H, vắng mặt;
5. Ch D ơng Th G, có mặt;
Đều c trú tại: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn;
6. Ch L ơng Th T; c trú tại: Xóm X, Th trấn B, huyện K, tỉnh Hải D ơng, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh L ơng Xuân H, ch L ơng Th H, ch D ơng Th G, ch L ơng Th T: Anh L ơng Xuân H; c trú tại: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (Văn bản ủy quyền ngày 07/7/2019), có mặt.
7. Bà Triệu Th N, vắng mặt;
8. Anh L ơng Văn Th, có mặt;
9. Anh L ơng Văn Tha, vắng mặt;
10. Anh L ơng Văn Thi, vắng mặt;
11. Ch L ơng Văn Th1, vắng mặt;
12. Ch Hoàng Th H, vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: của L ơng Văn Th, L ơng Th Th1, L ơng Văn Tha, L ơng Văn Thi là ông L ơng Xuân Ha; c trú tại: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (Văn bản ủy quyền ngày 26/8/2019), có mặt.
Ng ời làm chứng:
Ông Hoàng Công L; c trú tại: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; có mặt
- Người kháng cáo: Ông L ơng Xuân Ha là b đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án đ c tóm tắt nh sau:
Theo biên bản xem xét, thẩm đ nh tại chỗ ngày 25-9-2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, các đ ơng sự đều khẳng đ nh diện tích đất tranh chấp đã đo đạc là 4.531,3m2 tọa tại đ a danh khe Kh, Hang H, Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có ký hiệu hình gồm các điểm ABCDE’T’TGHIKLMNO trong Bản sơ họa thửa đất ngày 25-9-2019, trong đó bao gồm:
- Một phần diện tích thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 02 Bản đồ lâm nghiệp xã H đứng tên của ông L ơng Xuân H là 2.474m2 (ký hiệu hình là ABCDE'T'TLMNO);
- Một phần diện tích thuộc thửa 84, tờ bản đồ số 02 Bản đồ lâm nghiệp xã H đứng tên của ông L ơng Xuân Ha là 1.784,3 (ký hiệu hình là KLTGHI);
- Một phần thuộc thửa 58 diện tích 460,1m2 tờ bản đồ số 02 Bản đồ lâm nghiệp xã H đứng tên của ông Hoàng Công L (ký hiệu hình là E'EFGT).
Trên diện tích đất tranh chấp có: 01 cây trám trắng; 04 cây sâu sâu, 01 cây mạy càng; 688 cây keo mới trồng. Tổng giá tr về đất và cây trồng trên đất là 28.395.500 đồng.
Ngày 24-10-2019, tại biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và b đơn đều xác đ nh không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết đối với diện tích 460.1m2 tại thửa đất số 58 của ông Hoàng Công L.
Theo nguyên đơn bà L ơng Th Th và ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh L ơng Xuân H xác đ nh diện tích đất tranh chấp đ c gia đình bà khai phá từ năm 1990 trồng hoa màu, năm 1995, bà L ơng Th Th đ c giao hồ sơ giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng (sau đây gọi tắt là Sổ Bìa xanh) có lô 405 diện tích 1.5ha.
Năm 1999, gia đình bà thực hiện kê khai cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0385 QSDĐ/LN ngày 01-10-1999 của UBND huyện B, theo đó thì diện tích, số thửa đất vẫn giữ nguyên là thửa 405, diện tích 1.5 ha (đất trồng rừng).
Năm 2008 Nhà n ớc đo đạc lại bản đồ thì thửa 405 chuyển đổi thành thửa 59, tờ bản đồ số 02 Bản đồ lâm nghiệp xã H có diện tích 8.847m2, đứng tên trên bản đồ là anh L ơng Xuân H (con trai của bà L ơng Th Th), hiện gia đình bà ch a làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nh ng gia đình quản lý sử dụng cho đến nay.
Tháng 12 năm 2017, gia đình ông L ơng Xuân Ha đã phát rừng và trồng keo lên diện tích đất nói trên thì phát sinh tranh chấp. Vì vậy, bà L ơng Th Th khởi kiện yêu cầu ông L ơng Xuân Ha chấm dứt tranh chấp đối với diện tích đất 4.531,3m2 thuộc một phần thửa 59 và một phần thửa 84, thuộc tờ bản đồ số 02 Bản đồ lâm nghiệp xã H, công nhận quyền quản lý, sử dụng của bà L ơng Th Th đối với toàn bộ diện tích đất tranh chấp; quyền sở hữu tài sản trên đất và buộc anh L ơng Văn Th di dời toàn bộ cây keo đã trồng trên đất đi nơi khác.
Về phía b đơn ông L ơng Xuân Ha trình bày: Diện tích đất tranh chấp gia đình ông đã quản lý, sử dụng từ lâu, năm 1995 ông L ơng Xuân Ha đ c giao hồ sơ giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng tại lô số 402, có diện tích 3,1 ha. Đến năm 1999 thì đ c cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0448 QSDĐ/239/QĐUB ngày 01-10-1999 của UBND huyện B và giữ nguyên số thửa 402, diện tích 3.1ha. Năm 2018 ông cho con trai là L ơng Văn Th đã trồng cây keo thì phát sinh tranh chấp với gia đình bà L ơng Th Th. Hiện này đối với yêu cầu khởi kiện của bà L ơng Th Th thì ông không đồng ý, yêu cầu đ c quản lý toàn bộ đất tranh chấp là 4.531,3m2, yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với một phần diện tích đất 2.474m2 thuộc thửa 59 đã cấp cho bà L ơng Th Th.
Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2019/DS-ST, ngày 21-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã quyết đ nh:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, bà L ơng Th Th đ c quản lý sử dụng diện tích 2.474m2 tại Hang H, Khe Kh, thôn B, xã H, huyện B, thuộc thửa 59 tờ bản đồ đ a chính lâm nghiệp 02 xã H. Có các điểm A-B dài 41,59m; B-C dài 36,06m; C-D dài 8,25m; D-E’ dài 23,26m; E’-T dài 54,99m; T-L dài 33,15m; L-M dài 29,68m; M-N dài 15,15m; N-O dài 70,24m: Các phía tiếp giáp Phía Đông giáp đ ờng mòn; Phía Tây giáp đất ông Hoàng Công L; Phía Nam giáp đất ông L ơng Xuân Ha đ c quản lý sử dụng; Phía Bắc giáp đất bà L ơng Th Th đang sử dụng. Tài sản trên đất: Bà L ơng Th Th đ c sở hữu 01 cây trám trắng, 03m3 gỗ tạp; 153 cây keo trồng trên diện tích 2.474m2 và thanh toán giá tr cây cho anh L ơng Văn Th với số tiền là 1.224.000 đồng. (Có theo sơ họa vẽ ngày 25/9/2019 kèm theo.)
Buộc ông L ơng Xuân Ha chấm dứt hành vi tranh chấp tại diện tích đất bà L ơng Th Th đ c quản lý, sử dụng nêu trên.
2. Ông L ơng Xuân Ha đ c quản lý sử dụng diện tích là 1.784,3, tại Hang H, Khe Kh, thôn B, xã H, huyện B, thuộc thửa 84 tờ bản đồ đ a chính lâm nghiệp 02 xã H, huyện B. Có các điểm I-K dài 23,13m; K-L dài 34,93m; L-T dài 33,15m; T-G dài 7,13m; H-I dài 73,10m; H-G dài 23,13m. Các phía tiếp giáp Phía Đông giáp đ ờng mòn; Phía Tây giáp đất ông Hoàng Công L; Phía Nam giáp đất ông L ơng Xuân Ha đang sử dụng; Phía Bắc giáp đất bà L ơng Th Th đ c quản lý sử dụng. Tài sản trên đất: Anh L ơng Văn Th không phải di dời 535 cây keo trên thửa 84. (Có theo sơ họa vẽ ngày 25/9/2019 kèm theo.)
Buộc bà L ơng Th Th chấm dứt hành vi tranh chấp tại diện tích đất của ông L ơng Xuân Ha đ c quản lý, sử dụng nêu trên.
III. Về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Không chấp nhân yêu cầu của ông L ơng Xuân Ha về việc yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 876226 số vào sổ cấp giấy số 0385 QSDĐ/LN, ngày 01/10/1999 của Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp cho bà L ơng Th Th đối với một phần diện tích 2.474m2 thuộc thửa 59.
Ngoài ra, bản án còn quyết đ nh về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo.
Trong thời hạn luật đ nh, b đơn ông L ơng Xuân Ha có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất tranh chấp và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Không chấp nhận yêu cầu của ông L ơng Xuân Ha về việc yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 876226 số vào sổ cấp giấy số 0385 QSDĐ/LN ngày 01/10/1999 của Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp cho bà L ơng Th Th đối với một phần diện tích 2.474m2 thuộc thửa 59.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ng ời kháng cáo b đơn ông L ơng Xuân Ha vẫn giữ nguyên nội dung đã kháng cáo với căn cứ: Diện tích đất tranh chấp gia đình ông đã sử dụng ổn đ nh từ lâu, năm 2018 đã tiến hành trồng keo trên một phần diện tích đất tranh chấp. Mặt khác, năm 1995 gia đình ông đã đ c cấp Sổ Bìa xanh tại lô 402 diện tích 3.1ha và đ c cấp đổi GCNQSDĐ vào năm 1999. Vì vậy, đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông L ơng Xuân Ha, xử sửa Bản án sơ thẩm theo h ớng công nhận quyền quản lý, sử dụng diện tích đất thuộc thửa 59 tờ bản đồ lâm nghiệp số 02 xã H.
Anh L ơng Xuân H không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của b đơn và đề ngh giữ nguyên quyết đ nh của Bản án dân sự sơ thẩm.
Tòa án cấp phúc thẩm đã triệu tập ông Hoàng Công L tham gia phiên tòa và ông trình bày: Năm 1995 gia đình ông đ c Nhà n ớc giao đất rừng tại lô 406, có diện tích 1.0ha và năm 1999 đ c cấp giấy chứng nhện quyền sử dụng đất (sổ đỏ) số lô và diện tích giữ nguyên; năm 2011 đ c cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới đứng tên hai v chồng. Diện tích thửa đất này sát với diện tích đất mà nguyên đơn bà L ơng Th Th và b đơn ông L ơng Xuân Ha đang quản lý sử dụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện B triệu tập ông với t cách là ng ời làm chứng, tuy nhiên do ông không đ c tham gia xem xét, thẩm đ nh tại chỗ nên ông không biết mốc giới các bên chỉ dẫn tại thực đ a nên ông xác đ nh không liên quan đến diện tích đất tranh chấp. Hiện nay, đã có kết luận giám đ nh t pháp của Sở T, mặt khác thực tế trong quá trình quản lý, sử dụng thì gia đình ông L ơng Xuân H phát rừng cũng đã chặt vào cây thông của gia đình ông và đã đ c chính quyền xã H lập biên bản. Do đó, để đảm bảo quyền và l i ích h p pháp của ông, đề ngh Hội đồng xét xử xem xét hủy Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện B, bởi ông không đ c tham gia tại cấp sơ thẩm.
Ý kiến của ng ời bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của nguyên đơn trình bày: Diện tích đất tranh chấp đã đ c Nhà n ớc giao đất giao rừng cho bà L ơng Th Th từ năm 1995 tại lô 405, năm 1999 gia đình kê khai cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 405 diện tích 01 ha. Gia đình th ờng xuyên quản lý sử dụng, không cho ng ời khác chặt phá. Đề ngh Hội đồng xét xử căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; khoản 1 Điều 147; 157; 164 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 11; 15; 135; 357 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 105; khoản 5 Điều 169; 189; 170; 175; 179, 203 Luật Đất đai 2013. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể nh sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Th ký phiên tòa và các đ ơng sự có mặt chấp hành đúng quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự; những ng ời tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa đã đ c thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy đ nh của pháp luật tố tụng dân sự; đ ơng sự vắng mặt nh ng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và ng ời làm chứng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy đ nh của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: B đơn ông L ơng Xuân Ha kháng cáo yêu cầu: Công nhận quyền quản lý, sử dụng của ông L ơng Xuân Ha đối với diện tích 2.474m2 thuộc tờ thửa 59, tờ bản đồ đ a chính lâm nghiệp 02, tại Hang H, khe K, Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Yêu cầu đ c quyền sở hữu tài sản trên đất là cây trám;
Yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 876226, số vào sổ cấp giấy số 0385 QSDĐ/LN, ngày 01/10/1999 của Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp cho bà L ơng Th Th.
Tại cấp phúc thẩm, sau khi thẩm đ nh lại và chồng ghép bản đồ, giám đ nh bản đồ thấy một phần diện tích đất đang tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hoàng Công L. Tòa án đã đ a ông Hoàng Công L tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm, và tại phiên tòa phúc thẩm ông Hoàng Công L yêu cầu đ c tham gia tố tụng từ cấp sơ thẩm để bảo vệ quyền l i cho gia đình ông.
Để vụ án đ c giải quyết toàn diện, triệt để, đảm bảo nguyên tắc 02 cấp xét xử, đảm bảo quyền và l i ích h p pháp của các đ ơng sự. Đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; hủy Bản án sơ thẩm số 11/2019/DS-ST, ngày 21-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại; ý kiến, yêu cầu của các đ ơng sự sẽ đ c xem xét khi giải quyết lại vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:[
[1] Tòa án đã triệu tập h p lệ nh ng các đ ơng sự bà L ơng Th Th, anh L ơng Xuân Hi, ch L ơng Th H, ch L ơng Th T, ch L ơng Th Th1, anh L ơng Văn Tha, anh L ơng Văn Thi đều vắng mặt nh ng đã có ủy quyền và ng ời đại diện theo ủy quyền có mặt tại phiên tòa. Xét thấy, việc vắng mặt các đ ơng sự nói trên không ảnh h ởng đến việc xem xét kháng cáo của ông L ơng Xuân Ha. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan nói trên.
[2] Về tố tụng: Cấp sơ thẩm đ a ông Hoàng Công L tham gia tố tụng là ng ời làm chứng là có cơ sở, bởi vì sau khi có kết quả xem xét thẩm đ nh ngày 25/9/2019, Tòa án đã thông báo cho ông Hoàng Công L kết quả xem xét thẩm đ nh là việc tranh chấp có một phần đất nằm trong thửa đất 58, bản đồ đ a chính lập năm 2008, và phần tranh chấp anh L ơng Xuân H và L ơng Xuân Ha đã rút yêu cầu không tranh chấp phần đất tại thửa đất 58 và ông Hoàng Công L nhất trí tham gia với t cách là ng ời làm chứng. Sau khi cấp phúc thẩm đ a ông Hoàng Công L tham gia tố tụng thì ông Hoàng Công L đã cung cấp cho Tòa án Biên bản xác minh tranh chấp tại thực đ a thể hiện các cây tranh chấp tại là cây Hồi trồng theo dự án PAM b chặt 06 cây và cây hồi con trong năm 2018 b nhổ đều nằm trong thửa đất số 58. Ngoài ra ông Hoàng Công L còn cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên đ c cấp năm 2011 là thửa đất 58 trong đó diện tích v t so với diện tích cấp năm 1999, nh ng ông không có khiếu nại, điều này thể hiện ông thừa nhận diện tích tại thửa số 58 cùng sơ đồ thửa đất. Mặt khác tại phiên tòa đại diện Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn trình bày: Việc lập hồ sơ quản lý rừng và đất trồng rừng là theo ph ơng pháp thủ công, không đo tọa độ nên không chính xác. Năm 2008 khi lập bản đồ đ a chính đều do các hộ đ a đi dẫn đạc và đo bằng máy có tính tọa độ nên chính xác cao hơn, và khi cấp giấy chứng nhận đều thực hiện theo đúng trình tự thủ tục quy đ nh. Hơn nữa qua xem xét thẩm đ nh lần hai, việc chồng ghép bản đồ và kết quả giám đ nh khẳng đ nh khi lập bản đồ bằng ph ơng pháp thủ công do vậy kết quả giám đ nh chỉ là tham khảo. Do vậy không có căn cứ khẳng đ nh đất đang tranh chấp là nằm trong thửa đất do ông Hoàng Công L đang quản lý (theo bản đồ giao đất lâm nghiệp), nên cấp sơ thẩm xác đ nh ông Hoàng Công L là ng ời làm chứng là chính xác.
[3] Căn cứ vào hồ sơ vụ án, xét yêu cầu xem xét thẩm đ nh tại chỗ lại hiện trạng đất tranh chấp và chồng ghép bản đồ của b đơn ông L ơng Xuân Ha. Ngày 27-5-2020, Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xem xét thẩm đ nh tại chỗ và tr ng cầu giám đ nh bản đồ đối với giám đ nh viên của Sở T tỉnh Lạng Sơn để xác đ nh diện tích đất tranh chấp t ơng ứng số thửa, số tờ bản đồ nào của các tờ bản đồ qua các thời kỳ.
[4] Tại biên bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ ngày 27-5-2020, ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh L ơng Xuân H và b đơn ông L ơng Xuân Ha nhất trí thỏa thuận xác đ nh ranh giới diện tích đất tranh chấp, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm anh L ơng Xuân H không nhất trí với những nội dung thỏa thuận tại thực đ a ngày 27-5-2020. Nh vậy, các đ ơng sự không thỏa thuận đ c với nhau về việc giải quyết vụ án, áp dụng khoản 2 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền quyết đ nh và tự đ nh đoạt của đ ơng sự, Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo quy đ nh của pháp luật.
[5] Theo mảnh trích đo khu đất tranh chấp của Công ty Cổ phần trắc đ a bản đồ và Môi tr ờng Sông Tô chi nhánh Lạng Sơn và Kết luận giám đ nh ngày 10-7-2020 thể hiện: Diện tích đất tranh chấp bao gồm một phần diện tích 1356.5m2 thuộc thửa 405 đã đ c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L ơng Th Th; một phần diện tích 2796.7m2 thuộc thửa 406 đã đ c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Công L và một phần diện tích 105.0m2 thuộc thửa 402 ông L ơng Xuân Ha đã đ c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các thửa đất trên đều thuộc Tờ bản đồ giao đất, giao rừng và các đ ơng sự bà L ơng Th Th, ông L ơng Xuân Ha và ông Hoàng Công L đều đ c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1999. Tuy nhiên qua giám đ nh do việc giao đất lâm nghiệp khoanh vẽ bằng hình thức thủ công nên độ chính xác không cao do vậy kết luận chỉ mang tính tham khảo, không mang tính quyết đ nh.
[6] Quá trình giải quyết vụ án ng ời đại diện của nguyên đơn cho rằng thời điểm đ c giao sổ Bìa đỏ thì diện tích đ c giao đến điểm H-I nh trong sơ họa, gia đình vẫn quản lý rừng nh ng do điều kiện gia đình khó khăn nên một thời gian anh L ơng Xuân H đi Miền Nam, bà L ơng Th Th ở nhà thì th ờng xuyên ốm đau, đi viện điều tr nên không lên rừng th ờng xuyên đ c, do đó đến năm 2017 - 2018 gia đình b đơn đến phát rừng trồng cây, gia đình nguyên đơn không ai đ c biết. Nay nguyên đơn căn cứ vào sổ Bìa xanh, Bìa đỏ yêu cầu đ c quản lý sử dụng toàn bộ đất tranh chấp là 4.258,3m2 là không có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ văn bản của Ủy ban nhân dân huyện B, thửa đất số 405, nay là thửa 59, diện tích tranh chấp 2.474m2 thuộc thửa 59 mang tên L ơng Xuân H. Do vậy, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, đối với phần diện tích 2.474m2 thuộc thửa 59. Tài sản trên đất thuộc thửa 59: Có 01 cây Trám trắng do anh L ơng Xuân H trồng năm 1997 theo dự án Pam (BL 253), ngoài ra còn có 04 cây Sâu Sâu, 01 cây mạy Càng đ ờng kính 20cm, các cây quy ra gỗ tạp là 03m3 các cây này là cây mọc tự nhiên không do ai trồng, toàn bộ số cây nêu trên đang tồn tại trên thửa đất 59, do vậy bà L ơng Th Th đ c quyền sở hữu. Không chấp nhận yêu cầu của bà L ơng Th Th đối với một phần diện tích 1.784,3 m2 thuộc thửa 84.
[8] Xét yêu cầu của ông L ơng Xuân Ha về việc hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L ơng Th Th, thấy rằng: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà L ơng Th Th là đúng trình tự, thủ tục và đúng đối t ng nên không có căn cứ chấp nhận.
[9] Đối với yêu cầu của anh L ơng Văn Th: Quá trình giải quyết vụ án anh không có yêu cầu độc lập về đất tranh chấp, nh ng có tài sản riêng của anh L ơng Văn Th trồng trên phần đất tranh chấp 510,5m2 thuộc thửa 59 có 153 cây keo. Căn cứ văn bản số: 401/NN ngày 31/10/2019 của Phòng N, huyện B, thì đ ờng kính gốc d ới 05cm, nh ng chiều cao trung bình là 1,2m đến trên 1,5m, do vậy di dời cây sẽ không đảm bảo sống và phát triển bình th ờng, do vậy buộc bà L ơng Th Th có trách nhiệm thanh toán số tiền 1.224.000 đồng cho anh L ơng Văn Th và bà L ơng Th Th đ c sở hữu 153 cây keo.
[10] Yêu cầu của b đơn: Cho rằng diện tích đất đang tranh chấp hiện nay thuộc thửa 59 chính là diện tích đất đã đ c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông tại lô 402. Ông căn cứ vào mô tả trong Hồ sơ giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng để yêu cầu đ c quản lý toàn bộ diện tích đất tranh chấp. Căn cứ văn bản của Ủy ban nhân dân huyện B, thửa đất số 402, nay là thửa 84. Do vậy ông L ơng Xuân Ha đ c quản lý sử dụng một phần diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 84 là 1.784,3 m2 là có căn cứ.
[11] Đối với tài sản trên đất là 535 cây keo xác đ nh đây là tài sản của của anh L ơng Văn Th trồng, ông L ơng Xuân Ha không yêu cầu di dời cây, do đó anh L ơng Văn Th không phải di dời.
[12] Ý kiến của những ng ời có quyền l i liên quan phía nguyên đơn không yêu cầu độc lập và đều có yêu cầu giải quyết cho bà L ơng Th Th đ c quản lý sử dụng đất.
[13] Do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L ơng Xuân Ha, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
[14] Đối với ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đ a ra là không phù h p với nhận đ nh của Hội đồng xét xử nên không đ c chấp nhận.
[15] Về chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ, đ nh giá tài sản: Tại cấp sơ thẩm, do các bên đ ơng sự không thỏa thuận khác và yêu cầu của bà L ơng Th Th chỉ đ c chấp nhận một phần nên bà L ơng Th Th và ông L ơng Xuân Ha cùng phải ch u chi phí tố tụng. Bà L ơng Th Th đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ hết tổng số tiền là 5.000.000 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông L ơng Xuân Ha phải hoàn trả cho bà L ơng Th Th 2.500.000 đồng là đúng. Tại cấp phúc thẩm, ông L ơng Xuân Ha có yêu cầu Tòa án tiến hành biện pháp xem xét, thẩm đ nh tại chỗ, chi phí đo đạc bằng máy và tr ng cầu giám đ nh bản đồ hết tổng số tiền là 20.126.000 đồng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do yêu cầu kháng cáo của ông L ơng Xuân Ha không đ c chấp nhận nên ông L ơng Xuân Ha phải ch u toàn bộ chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm, xác nhận ông L ơng Xuân Ha đã nộp đủ.
[16] Do kháng cáo của ông L ơng Xuân Ha không đ c chấp nhận, nên ông L ơng Xuân Ha phải ch u án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên ông L ơng Xuân Ha thuộc đối t ng đ c mi n án phí phúc thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 309; khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 186, 190, 199, khoản 1 Điều 589, khoản 1 và 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 96, các khoản 2 và 5 Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 24, khoản 9 Điều 26, các khoản 2 và 4 Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 165 khoản 1 Điều 166, điểm h khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 29 của Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH, 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Th ờng vụ Quốc hội Khoá 14 quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2019/DS-ST, ngày 21-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, bà L ơng Th Th đ c quản lý sử dụng diện tích 2.474m2 tại Hang H, Khe Kh, thôn B, xã H, huyện B, thuộc thửa 59 tờ bản đồ đ a chính lâm nghiệp 02 xã H. Có các điểm A-B dài 41,59m; B-C dài 36,06m; C-D dài 8,25m; D-E’ dài 23,26m; E’-T dài 54,99m; T-L dài 33,15m; L-M dài 29,68m; M-N dài 15,15m; N-O dài 70,24m: Các phía tiếp giáp Phía Đông giáp đ ờng mòn; Phía Tây giáp đất ông Hoàng Công L; Phía Nam giáp đất ông L ơng Xuân Ha đ c quản lý sử dụng; Phía Bắc giáp đất bà L ơng Th Th đang sử dụng. Tài sản trên đất: Bà L ơng Th Th đ c sở hữu 01 cây trám trắng; 03m3 gỗ tạp; 153 cây keo trồng trên diện tích 2.474m2 và thanh toán giá tr cây cho anh L ơng Văn Th với số tiền là 1.224.000 đồng. (Có theo sơ họa vẽ ngày 25/9/2019 kèm theo.)
Buộc ông L ơng Xuân Ha chấm dứt hành vi tranh chấp tại diện tích đất bà L ơng Th Th đ c quản lý, sử dụng nêu trên.
2. Ông L ơng Xuân Ha đ c quản lý sử dụng diện tích là 1.784,3, tại Hang H, Khe Kh, thôn B, xã H, huyện B, thuộc thửa 84 tờ bản đồ đ a chính lâm nghiệp 02 xã H, huyện B. Có các điểm I-K dài 23,13m; K-L dài 34,93m; L-T dài 33,15m; T-G dài 7,13m; H-I dài 73,10m; H-G dài 23,13m. Các phía tiếp giáp Phía Đông giáp đ ờng mòn; Phía Tây giáp đất ông Hoàng Công L; Phía Nam giáp đất ông L ơng Xuân Ha đang sử dụng; Phía Bắc giáp đất bà L ơng Th Th đ c quản lý sử dụng. Tài sản trên đất: Anh L ơng Văn Th không phải di dời 535 cây keo trên thửa 84.
(Có theo sơ họa vẽ ngày 25/9/2019 kèm theo)
Buộc bà L ơng Th Th chấm dứt hành vi tranh chấp tại diện tích đất của ông L ơng Xuân Ha đ c quản lý, sử dụng nêu trên.
3. Về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Không chấp nhân yêu cầu của ông L ơng Xuân Ha về việc yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 876226 số vào sổ cấp giấy số 0385 QSDĐ/LN ngày 01/10/1999 của Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp cho bà L ơng Th Th đối với một phần diện tích 2.474m2 thuộc thửa 59.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Nguyên đơn, b đơn đ c mi n án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật. Hoàn trả bà L ơng Th Th số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2015/0000642 ngày 01/7/2019 của Chi cục T huyện B.
5. Về chi phí tố tụng:
5.1. Tại cấp sơ thẩm: Bà L ơng Th Th và ông L ơng Xuân Ha mỗi ng ời phải ch u 2.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm đ nh và đ nh giá tài sản. Bà L ơng Th Th đã tạm nộp tr ớc 5.000.000 đồng. Buộc ông L ơng Xuân Ha phải trả cho bà L ơng Th Th 2.500.000 đồng.
5.2. Tại cấp phúc thẩm: Ông L ơng Xuân Ha phải ch u chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ, chi phí đo đạc bằng máy, tr ng cầu giám đ nh bản đồ là 20.126.000 đồng, xác nhận ông L ơng Xuân Ha đã nộp đủ.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn có yêu cầu thi hành án, nếu b đơn không thi hành thì phải ch u lãi xuất t ơng ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy đ nh tại Điều 357 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các phần quyết đ nh khác của bản án dân sự sơ thẩm không có khác cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết hiệu lực kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Tổ HCTP; Phòng KTNV&THA; - TAND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; - CC T huyện B, tỉnh Lạng Sơn; - Các đ ơng sự; - Ng ời BVQVLIHP của đ ơng sự; - L u: Hồ sơ vụ án; Tòa Dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Đức Trí |