vanban.org

Bản án 47/2019/HSST — Hình sự

TAND TX. Sông Cầu, tỉnh Phú Yên Tuyên án 25/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: [1] Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hồ Hà Yến Nh; [2] Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Tấn H; [3] Điều 4…

TU bố: [1] Các bị cáo Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”; [2] Xử phạt: + Bị cáo Hồ Hà Yến Nh: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành hình phạt tù. + Bị cáo Phạm Tấn H: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/10/2019. [3]… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Hà Yến Nhi trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: [1] Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hồ Hà Yến Nh; [2] Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Tấn H; [3] Điều 4…
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SÔNG CẦU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH PHÚ YÊN
_________
Bản án số: 47/2019/HSST
Ngày: 25/12/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Ký và bà Trần Thị Phương Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Nhật ChU – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu – tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa: Ông Phan Đức Bình NgU - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 40/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:

[1] Hồ Hà Yến Nh, sinh năm 1995; tên gọi khác: Bi; nơi cư trú: Thôn QT, xã PL, huyện TP, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Văn Minh (sinh năm 1967) và bà: Hà Thị Tâm Hiếu (sinh năm 1967); tiền sự: Không; tiền án: Không. Đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Có mặt.

[2] Phạm Tấn H, sinh năm 1989; tên gọi khác: Duy; nơi cư trú: Thôn LT, xã PM, thành phố QN, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Tấn Đức (sinh năm 1965) và bà: Huỳnh Thị Thu Cúc (sinh năm 1970); tiền sự: Không; tiền án: Ngày 30/9/2015, bị TAND thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người bị hại:

[1] Phạm Thị Lệ U, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố LUĐ, phường XY, thị xã SC, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

[2] Mang Văn K, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn CL, xã XL, thị xã SC, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: [1] Huỳnh Hữu P, sinh ngày 20/11/2004; địa chỉ: Tổ 16, khu phố CC, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh Bình Định. Người đại diện hợp pháp có cha mẹ là: Ông Huỳnh Văn Tân, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Lá, sinh năm 1971; đều trú tại: Tổ 16, khu phố Công Chánh, thị trấn Tuy Phước, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. P có mặt; ông Tân, bà Lá vắng mặt. [2] Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn NT, xã PA, huyện TP, tỉnh Bình Định. Vắng mặt. Người làm chứng: [1] Võ Lê B, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn CL, xã XL, thị xã SC, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt. [2] Lê Đức T, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu phố LBĐ, phường XP, thị xã SC, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt. [3] Phạm Thị Mỹ N1, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố LUĐ, phường XY, thị xã SC, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Theo sự bàn bạc thống nhất từ trước, Hồ Hà Yến Nh và Huỳnh Hữu P (sinh ngày 20/11/2004) và đối tượng tên Tý (chưa xác định được lai lịch) sẽ điều khiển xe mô tô chạy trên các tuyến đường ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định và thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên để lợi dụng sơ hở của người dân, trộm cắp xe mô tô dựng trên đường, sau đó bán cho Phạm Tấn H theo đặt hàng của H từ trước. Vào khoảng 15 giờ ngày 20/02/2019, P điều khiển xe mô tô hiệu Mio (không rõ biểm kiểm soát, do P trộm cắp được) chở Nh và Tý từ huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đến thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên để lợi dựng sơ hở người dân trộm cắp xe mô tô. Khi đến trước tiệm tạp hóa Văn Nghiêm thuộc khu phố Lệ Uyên Đông, phường Xuân Yên, quan sát thấy 01 xe mô tô hiệu Vision biển số 78D1-033.38 của bà Phạm Thị Lệ U đang dựng không có người trông coi, có gắn chìa khóa ở ổ khóa điện nên P chuyển cho Nh điều khiển xe chở P và Tý quay trở lại, chạy ngang qua tiệm tạp hóa Văn Nghiêm khoảng 10m về hướng Bắc thì Nh dừng xe, P xuống xe đi đến vị T xe 78D1-033.38 lén lút bật khóa rồi điều khiển xe chạy trên QL1A về hướng Bắc. Nh cũng điều khiển xe Mio chở Tý chạy theo P, đến khu vực ngã ba Phú Tài, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thì Tý xuống xe, Nh tiếp tục điều khiển xe đến công viên Long Vân thuộc phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn thì gặp P. Tại đây, Nh gọi điện cho Phạm Tấn H đến để bán xe mô tô trộm cắp được với số tiền 4.000.000đ. Sau đó, Nh, P, Tý chia nhau tiêu xài hết. Sau khi mua xe, H bán lại cho anh Nguyễn Văn T được số tiền 4.500.000đ.

Quá trình điều tra còn xác định: Khoảng 15 giờ ngày 17/02/2019, Nh điều khiển xe Mio nói trên chở P từ huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đến thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên với mục đích lợi dụng sơ hở để trộm cắp xe mô tô của người dân. Khi đến QL1A thuộc thôn CL, xã XL, thị xã Sông Cầu thì P hiện 01 xe Novou, biển số 78E1-00576 của ông Mang Văn K dựng trước nhà ông Mang Văn Dũng không người trông coi. Nh điều khiển xe chạy chậm để P xuống xe đến vị T xe 78E1-00576, P lén lút mở khóa và điều khiển xe chạy đến thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tại đây, Nh, P liên hệ với H để bán xe nhưng H không mua nên P cất giấu để tìm nơi tiêu thụ thì bị công an phát hiện. Quá trình điều tra, Phạm Tấn H bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 09/10/2019 thì ra đầu thú tại Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐG ngày 14/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã SC kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 78D1-033.38 nhãn hiệu Honda, số loại Vision có giá trị 9.000.000đ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG ngày 27/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã SC kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 78E1-005.76 nhãn hiệu Yamaha, số loại Novou có giá trị 6.000.000đ.

Về vật chứng vụ án: Không.

Về phần dân sự: Người bị hại Phạm Thị Lê U yêu cầu bồi thường tiền sửa xe số tiền 2.040.000đ; ông Mang Văn K đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường; ông Nguyễn Văn T yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.

- Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 28/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Hồ Hà Yến Nh và Phạm Tấn H tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS).

- Tại phiên tòa:

+ Các bị cáo Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố; nhận thấy ăn năn, hối cải; đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, xử các bị cáo mức thấp nhất để bị cáo sớm trở về xã hội. Về trách nhiệm dân sự: Đồng ý bồi thường cho bà Phạm Thị Lệ U số tiền 2.040.000đ; bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 4.500.000đ. Không có ý kiến gì về thủ tục tố tụng.

+ Người liên quan Huỳnh Hữn P trình bày thống nhất với nội dung cáo trạng và lời trình bày của các bị cáo; thống nhất việc bồi thường dân sự, không có ý kiến gì.

+ Kiểm sát viên luận tội và đề nghị HĐXX chấp nhận nội dụng Cáo trạng, tuyên bố các bị cáo Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H đều phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Hồ Hà Yến Nh từ 15 đến 18 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Phạm Tấn H từ 12 đến 15 tháng tù. Về dân sự và biện pháp tư pháp: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với Huỳnh Hữu P sinh ngày 20/11/2004, tính đến ngày 17/02/2019 và ngày 20/02/2019 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách Nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thu thập chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác đảm bảo đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng. [2] Về tội danh và khung hình phạt: Theo sự bàn bạc thống nhất từ trước, Hồ Hà Yến Nh, Huỳnh Hữu P và đối tượng tên Tý (chưa xác định được lai lịch) sẽ điều khiển xe mô tô chạy trên các tuyến đường từ thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đến thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên để lợi dụng sơ hở trộm cắp xe mô tô dựng trên đường, bán cho Phạm Tấn H theo đặt hàng của H. Đến khoảng 15 giờ ngày 20/02/2019, trước tiệm tạp hóa Văn Nghiêm thuộc khu phố Lệ Uyên Đông, phường Xuân Yên, thị xã Sông Cầu: Hồ Hà Yến Nh, Huỳnh Hữu P và Tý quan sát thấy 01 xe mô tô hiệu Vision biển số 78D1-033.38 đang dựng không có người trông coi nên lén lút bật khóa rồi điều khiển xe chạy trên QL1A về hướng Bắc đến công viên Long Vân thuộc phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn bán cho Phạm Tấn H số tiền 4.000.000đ. Tài sản trộm cắp của bà Phạm Thị Lệ U, trị giá 9.000.000đ. Hành vi của Hồ Hà Yến Nh đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Đối với Phạm Tấn H tuy không trực tiếp trộm cắp tài sản nhưng do có thỏa thuận trước sẽ mua tài sản trộm cắp của Nh, thúc đẩy Nh phạm tội là giúp sức về mặt tinh thần nên H đồng phạm với Nh về tội Trộm cắp tài sản. Xét hành vi của Nh, P, Tý, H tuy có thỏa thuận trước về việc trộm cắp nhưng không có phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể từng người, không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Do đó, Nh và H phạm tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Ngoài vụ trộm cắp trên, vào khoảng 15 giờ ngày 17/02/2019, tại thôn Chánh Lộc, xã Xuân Lộc, thị xã Sông Cầu: Nh và P còn trộm cắp 01 xe Novou, biển số 78E1-00576 của ông Mang Văn K trị giá 6.000.000đ, rồi điều khiển xe chạy đến thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định liên hệ với H để bán xe nhưng H không mua. [2] Đối với Huỳnh Hữu P sinh ngày 20/11/2004, tính đến ngày 17/02/2019 và ngày 20/02/2019 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chỉ mới hơn 14 tuổi 02 tháng đến 14 tuổi 03 tháng. Căn cứ Điều 12 BLHS thì P không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Về tính chất, mức độ phạm tội, vai trò đồng phạm của từng bị cáo: Các bị cáo Nh, H đã có bàn bạc thống nhất trước nên hành vi là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu của công dân, trật tự an toàn xã hội, cần xử nghiêm.

Nh phạm tội với vai trò là người thực hành, cùng với P trực tiếp chiếm đoạt tài sản 02 vụ với tổng giá trị là 15.000.000đ; H phạm tội với vai trò là người giúp sức về mặt tinh thần cho Nh, P trộm cắp tài sản 01 vụ với giá trị là 9.000.000đ. Mục đích phạm tội của các bị cáo nhằm thu lợi bất chính, có tiền tiêu xài cá nhân.

Đặc điểm nhân thân: Bị cáo Nh chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo H có một tiền án, thuộc trường hợp có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nh 02 lần trộm cắp tài sản đều có giá trị lớn hơn 2.000.000đ là tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo H có 01 tiền án chưa xóa án tích lại phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý là tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Cả hai bị cáo Nh, H đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng đối với bị cáo H đã đầu thú nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần áp dụng hình phạt tù trong khung và trên mức khởi điểm như kiểm sát viên đề nghị cũng đảm bảo tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với Nguyễn Văn T mua xe của Phạm Tấn H nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có nên không cấu thành tội phạm, Cơ quan CSĐT không khởi tố, VKSND thị xã Sông Cầu không truy tố là đúng pháp luật.

Về trách Nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận giữa người bị hại Phạm Thị Lệ U với Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H, Huỳnh Hữu P nội dung: Nh, H, P liên đới bồi thường theo phần ngang nhau cho chị U số tiền 2.040.000đ; mỗi người phải bồi thường 680.000đ.

Số tiền 4.500.000đ của ông Nguyễn Văn T mua xe trộm cắp nhưng ông T không biết tài sản do phạm tội mà có, là khoản thiệt hại của ông T; buộc H, Nh, P phải liên đới bồi thường theo phần ngang nhau cho ông T, mỗi người phải bồi thường 1.500.000đ.

Đối với Huỳnh Hữu P tại thời điểm xét xử chỉ mới 15 tuổi 01 tháng 05 ngày nên P phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản bồi thường thì cha mẹ là ông bà Huỳnh Văn Tân, Nguyễn Thị Lá phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. [10] Biện pháp tư pháp: Số tiền 4.000.000đ do Phạm Tấn H dùng làm phương tiện phạm tội trả tiền mua xe trộm cắp cho Nh, P nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46 và khoản 1 Điều 47 BLHS, buộc Nh, P giao nộp 4.000.000đ, mỗi người phải giao nộp 2.000.000đ để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. [11] Về xử lý vật chứng: Không có nên không xem xét. [12] Về án phí: Các bị cáo Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H, Huỳnh Hữu P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: [1] Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hồ Hà Yến Nh; [2] Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Tấn H; [3] Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự; [4] Các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; [5] Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

- TU bố: [1] Các bị cáo Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”; [2] Xử phạt: + Bị cáo Hồ Hà Yến Nh: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành hình phạt tù. + Bị cáo Phạm Tấn H: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/10/2019. [3] Về dân sự: + Buộc Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H, Huỳnh Hữu P phải liên đới bồi thường theo phần ngang nhau cho bà Phạm Thị Lệ U số tiền 2.040.000đ (hai triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng); mỗi người phải bồi thường số tiền 680.000đ (sáu trăm tám mươi nghìn đồng). + Buộc Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H, Huỳnh Hữu P phải liên đới bồi thường theo phần ngang nhau cho ông Nguyễn Văn T số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), mỗi người phải bồi thường số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).

+ Đối với Huỳnh Hữu P phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản bồi thường thì cha mẹ là ông bà Huỳnh Văn Tân, Nguyễn Thị Lá phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

[4] Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người được thi hành án có đơn thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5] Biện pháp tư pháp: Buộc Hồ Hà Yến Nh, Huỳnh Hữu P mỗi người phải nộp 2.000.000đ (hai triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H mỗi người phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc Hồ Hà Yến Nh, Phạm Tấn H, Huỳnh Hữu P mỗi người phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[8] Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tU án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ