vanban.org

Bản án 47/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 20/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, anh Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không chịu trả số tiền trên thì bị cáo phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. “Trường hợp bản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn B phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM ĐẢO
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2019/HSST
Ngày 20 tháng 9 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Việt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Vườn và bà Lê Thị Chiên

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2019/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Phùng Văn B, sinh ngày 30/3/1998; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; văn hoá: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Xuân D và bà Bùi Thị H; có vợ là Bùi Thị T (đã ly hôn) và có 01 con (sinh năm 2016)

- Tiền án: 01. Tại bản án số 100/2017/HSST ngày 05/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/4/2018, B đã chấp hành xong hình phạt của bản án, hiện chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2019 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt

*Người bị hại: Anh Đỗ Gia Đ, sinh năm 1968 (vắng mặt) và chị Đỗ Thị Thiên Ng, sinh năm 1972 (có mặt); đều trú tại: Thôn C, xã M, huyện TĐ, tỉnh Vĩnh Phúc.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Lê Đình C, sinh năm1989; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

2. Anh Nguyễn Tiến T, sinh năm 1993; trú tại: Thôn N, xã T, huyện ML, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 28/5/2019, Phùng Văn B ở thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang một mình điều khiển xe mô tô Honda Dream BKS 29Z1 - 092.24 (xe Bình mượn của anh Lê Đình C ở thôn Đ, xã T, huyện ML, thành phố Hà Nội) đến phòng trọ của anh Lê Văn Th ở thôn C, xã M, huyện TĐ - là người quen của B - để chơi và ở đó vài ngày. Khoảng 19h00 ngày 01/6/2019, B một mình ở phòng trọ thấy đói nên đã đi bộ sang quán tạp hóa gần đó để mua mì tôm về nấu ăn nhưng quán đóng cửa nên B quay về. Khi đi đến quán sửa chữa điện thoại của gia đình anh Đỗ Gia Đ ở thôn Cam Lâm Đồn, xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, phát hiện thấy 01 xe mô tô BKS 30N1-8115 nhãn hiệu Yamaha Sirius màu vàng đen của anh Đ dựng ở trước cửa quán, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện, không có người trông giữ, B đã nảy sinh ý định trộm cắp xe của anh Đ mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Để tránh bị phát hiện, B đi về phòng trọ thay quần áo, đeo khẩu trang, đội mũ lưỡi trai rồi lấy một túi xách đeo trên người sau đó đi bộ đến đứng ở bên đường đối diện quán nhà anh Đ để quan sát. Thấy nhà anh Đ cửa khép, không có người qua lại, B liền đi đến chỗ xe mô tô BKS 30N1 - 8115, ngồi lên yên xe rồi lùi xe ra phía ngoài đường và nổ máy điều khiển xe đi theo hướng từ xã Minh Quang đi xã Quang Hà, huyện Bình Xuyên. Khi đi đến quán Internet của anh Vũ Văn N ở thôn Quang Sơn, xã Gia Khánh, huyện Bình Xuyên (là quán internet Bình đã từng đến chơi game), B hỏi anh N cho B gửi xe mô tô Sirius BKS 30N1 - 8115 tý quay lại lấy - B không nói cho anh N biết chiếc xe do B vừa trộm cắp được - anh Nhiên đồng ý. Sau đó, B đi nhờ xe của một người đi đường về phòng trọ của anh T. Tại đây, B gặp anh Nguyễn Tiến C ở thôn C, xã H, huyện BX và anh Cao Văn T ở thôn T, xã B, huyện B X - là bạn của anh T - đang chơi ở đó. B nói cần đi Hà Nội có việc gấp và gửi lại chiếc xe mô tô BKS 29Z1 - 092.24 rồi nhờ anh T đưa ra ngã ba Quang Hà - Bình Xuyên để Bình bắt xe đi Hà Nội (mục đích để Bình đến quán anh N lấy xe mang đi bán nhưng B không nói cho anh T biết), anh T đồng ý và lấy xe mô tô của mình chở B đến ngã ba Quang Hà, đến nơi Bình xuống xe còn anh T quay lại phòng trọ của anh Th. Sau khi anh T về, B đi vào quán Internet của anh N lấy xe mô tô BKS 30N1-8115 (Bình gửi lúc trước) rồi đi xuống thành phố Hà Nội để tìm chỗ bán xe. Khi đến khu vực Cổ Nhuế - Hà Nội, Bình vào một quán Internet (Bình không nhớ tên, địa chỉ cụ thể) vào mạng internets tìm Facebook của một người có tên là Linh sinh năm 1995 ở Hải Dương (Bình không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể mà chỉ biết Linh chuyên mua bán xe máy thông qua mạng xã hội) để liên hệ bán xe. Qua trao đổi tin nhắn Facebook, Linh đồng ý mua chiếc xe mô tô Sirius BKS 30N1 - 8115 với giá 3.000.000đ và bảo B mang xe ra đầu ngõ 195, đường Trần Cung, phường Cổ Nhuế, Hà Nội sẽ có người đón. Theo chỉ dẫn của Linh, B điều khiển xe đến ngõ 195 thì có 02 người nam giới nhận là bạn của Linh (B không biết tên, tuổi, địa chỉ của 02 người này) đến kiểm tra xe rồi trả cho B số tiền 3.000.000đ, Bình cầm tiền rồi giao xe cho 02 thanh niên này, sau đó 02 thanh niên này đi đâu B không biết. Số tiền trên B đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Đến khoảng 12h00 ngày 02/6/2019, B đi xe khách về thôn Trại Cúp, xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên để chơi thì gặp anh Th, anh Cường. Tại đây, anh Th, anh C hỏi B có trộm cắp xe máy ở quán điện thoại Nga Đồng không thì B nhận có trộm cắp. Sau đó, anh Th đã đưa B đến Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo đầu thú.

Ngày 01/6/2019, anh Đỗ Gia Đ có đơn đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo điều tra làm rõ.

Cùng ngày, anh Nguyễn Thanh T ở thôn Cam Lâm Đồn, xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc - là hàng xóm nhà anh Đ đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo 01 USB màu trắng có chứa nội dung video ghi lại vụ việc trộm cắp tài sản nêu trên.

Ngày 02/6/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo tạm giữ tại nhà trọ của anh Lê Văn Th 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 29Z1 - 092.24 là chiếc xe B đã điều khiển đến phòng trọ của anh Th ngày 28/5/2019.

Ngày 05/6/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 30N1 - 8115 màu sơn vàng đen đã cũ, đã qua sử dụng. Tại kết luận định giá tài sản số 348/KL-HĐĐG ngày 10/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Tam Đảo kết luận: Giá trị còn lại của tài sản là 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng chẵn).

Ngày 24/6/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo đã ra Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 tệp video được lưu trữ trong USB của anh Tuyền giao nộp có nội dung ghi lại vụ việc trộm cắp tài sản ngày 01/6/2019 tại nhà anh Đỗ Gia Đ. Tại bản kết luận số 1333/KLGĐ ngày 06/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp tin video gửi giám định.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 29Z1 - 092.24, đăng ký mang tên anh Nguyễn Văn T ở thôn Tân Châu, xã Chu Phan, huyện Mê Linh, Hà Nội. Chiếc xe trên anh T đã bán lại cho anh Nguyễn Tiến T ở thôn Ngự Tiền, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh vào năm 2013 với giá 15.000.000đ (không viết giấy tờ mua bán). Sau đó anh Tỉnh cho anh Lê Đình Cô ở thôn Đức Hậu, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, Hà Nội - là bạn của anh T để dùng làm phương tiện đi lại. Anh C cho B mượn lại. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên không liên quan tới việc phạm tội nên ngày 04/7/2019 Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo đã trả lại chiếc xe trên cho anh T.

Đối với đối tượng tên Linh, sinh năm 1995 quê ở Hải Dương là người đã trao đổi mua bán xe với Phùng Văn Bình thông qua hệ thống tin nhắn Facebook và 02 thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) là người trực tiếp trao đổi mua bán chiếc xe mô tô BKS 30N1 - 8115 với B. Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo đã phối hợp với Công an phường Cổ Nhuế 1 - Bắc Từ Liêm - Hà Nội tiến hành xác minh, xác định không có người nào có lai lịch như trên đăng ký thường trú, tạm trú hay hoạt động tại khu vực ngõ 195 Trần Cung và địa bàn phường Cổ Nhuế 1. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với các anh Lê Văn Th - người cho Bình ở nhờ nhà trọ, anh Cao Văn T-người đưa Bình ra ngã ba Quang Hà - Bình Xuyên và anh Vũ Văn Nh chủ quán Internet nơi Bình gửi chiếc xe trộm cắp đều không biết việc Bình trộm cắp tài sản, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS 30N1 - 8115 là của anh Đỗ Gia Đ chủ sở hữu hợp pháp. Ngày 01/6/2019, bị B trộm cắp nay anh Đồng yêu cầu bị can Phùng Văn B bồi thường giá trị chiếc xe là 10.000.000đ do theo anh Đồng chiếc xe máy trên gia đình anh ít sử dụng nên vẫn còn mới. Tại phiên tòa, chị Đỗ Thị Thiên Ng (là vợ anh Đ) đề nghị B bồi thường số tiền 7.500.000đ theo Kết luận định giá, Bình đồng ý bồi thường nhưng chưa bồi thường được.

Đối với 01 đĩa DVD; 01 USB được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại theo kết luận giám định có lưu giữ hình ảnh video liên quan đến vụ án cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra xác định: Ngoài lần phạm tội trên thì Phùng Văn B đã thực hiện hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện Sơn Dương. Ngày 14/6/2019 Phùng Văn B đã bị cơ quan điều tra Công an huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang khởi tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS.

Tại Cáo trạng số 51/CT-VKSTĐ ngày 27/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đã truy tố Phùng Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà đã phân tích hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phùng Văn B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự: Đề nghị xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo đã trả lại cho anh Nguyễn Tiến T chiếc xe mô tô BKS 29Z1- 092.24; buộc Phùng Văn B phải bồi thường cho anh Đỗ Gia Đ theo quy định của pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thể hiện như sau: Khoảng 19h00’ ngày 01/6/2019, tại thôn Cam Lâm Đồn, xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, Phùng Văn B đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 30N1 - 8115 của anh Đỗ Gia Đ. Trị giá chiếc xe mô tô BKS 30N1 - 8115 là 7.500.000đ.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, với các chứng cứ khác đã được thu thập và phù hợp với Cáo trạng đã được Đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Do vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đang có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích mà còn tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung;

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, lần phạm tội này của bị cáo là “tái phạm”. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú tại Cơ quan điều tra.

Do vậy cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự : “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo đã trả lại cho anh Nguyễn Tiến T chiếc xe mô tô BKS 29Z1-092.24. Sau khi nhận lại tài sản trên anh T không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đỗ Gia Đ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 30N1 – 8115 theo định giá là 7.500.000đ;

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được Điều tra viên, Kiểm sát điều tra, thu thập theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng mọi hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong việc điều tra, truy tố đối với bị cáo;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phùng Văn Bình 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 02/6/2019;

3. Áp dụng các Điều 584, Điều 589, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự: Buộc Phùng Văn B phải bồi thường cho anh Đỗ Gia Đ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 30N1 – 8115 theo định giá là 7.500.000đ;

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, anh Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không chịu trả số tiền trên thì bị cáo phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án án số 326/2016/PL-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 375.000đ án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ