- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đ Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ (tức Q) phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47 /2019/HS-ST Ngày 21/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thạnh
Ông Nguyễn Tiến Nam
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Tú Loan, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Thạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Đ (tên gọi khác: Q), sinh ngày 21 tháng 8 năm 1998 tại tỉnh T. Nơi cư trú: Số X đường T, phường P, thành phố H, tỉnh T; nghề nghiệp: Bán tranh dạo; trình độ học vấn: Không được đi học; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và bà Nguyễn Thị T; chưa có cợ con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Quá trình nhân thân:
- Ngày 22/12/2011 bị Ủy ban nhân dân thành phố Huế áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Ngày 27/6/2016 bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 20/10/2017 bị Công an phường Phú Hội xử phạt hành chính về hành vi gây mất trật tự khu dân cư.
- Bị hại:
Bà M, sinh ngày 09/02/1946, quốc tịch: Canada.
Địa chỉ: XYZ Canada. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Hồ Đình Q, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn X, xã T, thị xã H, tỉnh T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 23/01/2019, Nguyễn Đ đang đứng bán tranh tại đường Phạm Ngũ Lão, phường Phú Hội, thành phố Huế thì thấy bà M đang hỏi thuê xe xích lô của ông Hồ Đình Q để chở bà về nhà nghỉ (Homestay) ở 01/63 đường Nguyễn Lộ Trạch, phường Xuân Phú, thành phố Huế. Thấy vậy, Đ liền theo xe của ông Q để bán tranh cho bà M. Khi về đến nhà nghỉ (Homestay), Đ đến xe xích lô dìu bà M xuống xe và đứng cạnh bên, bà M mở ví lấy tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng để trả tiền xe cho ông Q. Lúc này, Đ thấy trong ví của bà M nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt để lấy tiền tiêu xài, Đ liền cầm tờ tiền 100.000 đồng đưa cho ông Q để ông Q đưa lại tiền dư 20.000 đồng rồi Đ quay lại đứng đối diện với bà M, tay phải cầm xấp bức ảnh kích thước khoảng 15x 20cm che lên phía trên tay cầm ví của bà M, tay trái của Đ đưa vào phía dưới xấp ảnh lấy số tiền 5.000.000 đồng bên trong ví bà M. Lấy được tiền, Đ nhanh chóng trở về đường Phạm Ngũ Lão để bán tranh thì gặp ông Q, Đ cho ông Q 100.000 đồng để uống nước.
Ngày 24/01/2019 Đ nhận thấy hành vi chiếm đoạt tiền của bà M là vi phạm pháp luật nên đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đầu thú và giao nộp lại số tiền 5.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Đ đã tự nguyện nộp lại số tiền 5.000.000 đồng đã chiếm đoạt cho cơ quan điều tra. Bà M đã nhận lại tài số tiền 5.000.000 đồng đã mất trong ví và không có yêu cầu gì thêm.
Ông Hồ Đình Q đã tự nguyện giao nộp số tiền 100.000 đồng cho cơ quan điều tra. Tuy nhiên, qua quá trình điều tra xác định đây là số tiền cá nhân Đ cho ông Q để uống nước không liên quan đến vụ án nên cơ quan điều tra đã trả lại số tiền nói trên cho ông Q.
Tại phiên tòa, Nguyễn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 8/CT-VKS-P3, ngày 12/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố Nguyễn Đ về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên qua điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm h,i, s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, tuyên xử phạt bị cáo Nguyễn Đ từ 06 đến 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Bị cáo đã thấy được lỗi lầm, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên:
Trong quá trình thực hiện điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi , quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
. Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ ngày 23/01/2019, Nguyễn Đ lén lút chiếm đoạt của bà M số tiền 5.000.000 đồng.
Như vậy, bản cáo trạng số 18/CT-VKS-P3 ngày 12/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Đ là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hành vi chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu của người khác của bị cáo đã gây mất trật tự trị an, tảnh hưởng xấu cho hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam. Bị cáo có nhân thân xấu, nên cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, trở thành công dân tốt cho xã hội.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên, tình tiết này được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là bồi thường toàn bộ thiệt hại, gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, được quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung : Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đ .
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ (tức Q) phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s Khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đ 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tình từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh TT Huế; - Phòng PV 06 CA tỉnh; - Sở Tư pháp; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh; - Trại tạm giam CA tỉnh; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu HSVA, Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Minh |