vanban.org

Bản án 47/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 24/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc C phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Đặng Ngọc C 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2019. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Ngọc C - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc C phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tuyên; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ -TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2019/HS-ST
Ngày: 24-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Hòa

Ông Trần Đức Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 09 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Đặng Ngọc C, sinh ngày 23/7/1991; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: B, S, G, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Ngọc Đ và bà Lê Thị T; có vợ là Trương Thị H và 01 con sinh năm 2019;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ ngày 05/6/2019, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Bà Nguyễn Thị T1 - Sinh năm: 1983 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng

mặt).

Nơi cư trú: Số 114 A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trương Thị H - Sinh năm: 1993 (có mặt).

Nơi cư trú: Thôn 11 xã H, huyện Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 5/2019, Đặng Ngọc C sử dụng tài khoản zalo có nick name “Tôi là Tôi” làm quen và nói chuyện với tài khoản zalo có nick name “ Nắng Mai” của bà Nguyễn Thị T1. Sáng ngày 03/6/2019, C vào thông tin tài khoản zalo “Nắng Mai” và nhắn tin với bà T1 thì biết được bà T1 hiện đang kinh doanh bất động sản tại Tòa nhà Ánh Dương, Đà Nẵng nên C nảy sinh ý định đe dọa bà T1 để chiếm đoạt tài sản. C nhắn tin nói sẽ cho bê đê đánh bà T1 vì có người thuê c theo dõi, “lấy cánh tay” hoặc “tắm axit” bà T1 (thực tế không có người thuê C) và sử dụng lời lẽ đe dọa như: “Em có muốn chiều nay anh cho tụi bê đê đánh em không”, “muốn tắm axit không”, “mình đã mua axit rồi”, “giờ mày muốn tao thực hiện luôn không” và đưa hình ảnh nhiều con dao gửi qua zalo cho bà T1 xem. Đến 9 giờ 01 phút ngày 04/6/2019, C tiếp tục nhắn tin zalo và yêu cầu bà T1 gặp trực tiếp C vào lúc 10 giờ ngày 05/6/2019 tại quán cà phê Koi thuộc phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và đưa 5.000.000 đồng bỏ trong phong bì, ghi số tài khoản ngân hàng cho C. C có dặn bà T1: “ Nếu đi với nam cho đàn em đến lấy, đi một mình thì trực tiếp đến lấy”.

Đến khoảng 11 giờ ngày 05/6/2019, bà T1 vào quán cà phê Koi được một lúc thì C điều khiển mô tô BKS 75M1-039.31 đến và gọi zalo cho bà T1. Bà T1 từ trong quán cà phê đi ra ngoài đường gần khu vực giao nhau giữa đường Xuân Thủy và đường Trịnh Đình Thảo, khi đến gần chỗ C thì bà T1 yêu cầu C cung cấp thông tin người thuê C thì C đưa cho bà T1 01 mảnh giấy với nội dung: “Lê Minh Đức, 32 Nguyễn Phước Nguyên, 0369951196”. C nói với bà T1 “đưa tiền đây”. Do hoảng sợ nên bà T1 đưa cho C 5.000.000 đồng cùng với tờ giấy A4 ghi thông tin tài khoản ngân hàng. C lấy tiền rồi điều khiển xe mô tô bỏ chạy thì bị lực lượng công an tuần tra gần đó bắt giữ, thu giữ: 01 tờ giấy A4 ghi nội dung: Nguyễn Thị T1, STK: 970405074742360, ngân hàng Agribank gấp lại, bên trong có 5.000.000 đồng, 01 xe mô tô hiệu Lead BKS 75 M1-039.31 kèm giấy đăng ký xe mang tên Trương Thị H, 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen, 01 chứng minh nhân dân và 01 bằng lái xe mang tên Đặng Ngọc C. Bà T1 giao nộp 01 mảnh giấy do C đưa.

Ngoài hành vi nêu trên, Đặng Ngọc C còn sử dụng điện thoại nhắn tin, chiếm đoạt của bà Võ Thị H1 (Sinh năm 1988, trú khối phố N, Đ, B, Quảng Nam) số tiền 1.500.000 đồng; chiếm đoạt của bà Đinh Thị Thu T2 (Sinh năm 1989, trú H, T, Quảng Bình) số tiền 2.000.000 đồng và chiếm đoạt của người có nick zalo Le Thai B số tiền 5.000.000 đồng.

Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 47/CT-VKSCL ngày 20/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo Đặng Ngọc C về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội là vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo C mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô hiệu Lead màu đỏ, biển kiểm soát 75M1-039.31 kèm giấy đăng ký xe là của bà Trương Thị H. Bà H không biết bị cáo C sử dụng xe để làm phương tiện phạm tội nên đề nghị trả lại cho bà H.

- Đối với 01 chứng minh nhân dân và 01 bằng lái xe mang tên Đặng Ngọc C, không có liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo C.

- Đối với chiếu điện thoại Vivo màu đen và chiếc điện thoại hiệu Itel màu đen của Đặng Ngọc C dùng nhắn tin đe dọa chiếm đoạt tài sản của bà T1 nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo C đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng là xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại là bà T1 trình bày bà đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bị cáo C bồi thường. Về hình phạt đối với bị cáo C, bà đề nghị HĐXX xét xử theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H đề nghị được nhận lại tài sản là xe mô tô hiệu Lead màu đỏ, biển kiểm soát 75M1-039.31 kèm giấy đăng ký xe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cẩm Lệ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Ngọc C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu hồi được cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 03/6/2019 đến ngày 05/6/2019, thông qua mạng zalo bị cáo dùng thủ đoạn nhắn tin, đe dọa chặt cánh tay hay tạt axit, uy hiếp tinh thần, làm bà Nguyễn Thị T1 sợ hãi để chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng. Do đó, hành vi này của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo C về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, có nhận thức pháp luật và xã hội nhất định, nhưng bị cáo lại bất chấp hậu quả, coi thường kỷ cương pháp luật, thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng bản thân, không biết nỗ lực lao động lương thiện để nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình, mà lại dùng thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của người khác để kiếm tiền nhanh chóng nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Ngoài việc chiếm đoạt tài sản của bà T1, bị cáo còn thực hiện chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn thể hiện sự táo bạo, liều lĩnh, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Do đó, HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo, biết ăn năn hối cải. Bị cáo đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự, đã xuất ngũ, có cha đã từng tham gia cách mạng và có một con nhỏ sinh năm 2019. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đề nghị áp dụng cho bị cáo C là có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích nêu trên, nên được HĐXX chấp nhận.

Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của bà Võ Thị H1 và bà Đinh Thị Thu T2, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ đã chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình để điều tra theo thẩm quyền là có cơ sở. Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của người sử dụng nick name zalo Le Thai B, do chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ tách ra xử lý sau là có cơ sở.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô hiệu Lead màu đỏ, biển kiểm soát 75M1-039.31 kèm giấy đăng ký xe là của bà Trương Thị H. Bà H không biết bị cáo C sử dụng xe để làm phương tiện phạm tội nên trả lại cho bà H.

- Đối với 01 chứng minh nhân dân và 01 bằng lái xe mang tên Đặng Ngọc C, không có liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo C.

- Đối với 01 chiếc điện thoại Vivo màu đen số IMEI 863481049887159 và 863481049887142, 01 chiếc điện thoại hiệu Itel màu đen của Đặng Ngọc C dùng để nhắn tin đe dọa chiếm đoạt tài sản của bà T1, là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với sim số 0369951196 không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Đặng Ngọc C phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 170; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc C phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Đặng Ngọc C 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tuyên:

- Trả lại cho bà Trương Thị H xe mô tô hiệu Lead màu đỏ, biển kiểm soát 75M1-039.31 kèm giấy đăng ký xe mang tên Trương Thị H.

- Trả lại cho bị cáo Đặng Ngọc C Tịch 01 chứng minh nhân dân và 01 bằng lái xe mang tên Đặng Ngọc C.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 chiếu điện thoại Vivo màu đen số IMEI 863481049887159 và 863481049887142 và 01 chiếc điện thoại hiệu Itel màu đen của Đặng Ngọc C.

- Tịch thu tiêu hủy đối với sim số 0369951196.

(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ theo Quyết định chuyển vật chứng vụ án số 25/QĐ-VKSCL ngày 20/8/2019 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2019)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Ngọc C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Những người tham gia tố tụng;

- VKSND quận Cẩm Lệ;

- VKSND tp. Đà Nẵng;

- Cơ quan CSĐT quận Cẩm Lệ;

- Cơ quan THAHS CA quận Cẩm Lệ;

- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;

Ngô Thị Thanh Tuyền

- Sở tư pháp tp. Đà Nẵng;

- Trại tạm giam CA TP. Đà Nẵng;

- Lưu hồ sơ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ