vanban.org

Bản án 47/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 07/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Trọng Đ phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Trọng Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 31/7/2019. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Trọng Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trọng Đ - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Trọng Đ phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM THAO
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2019/HS-ST
Ngày 07 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương Nhị

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Xiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: Bà Chử Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ tên: Bùi Trọng Đ, Giới tính: nam; Tên gọi khác: không; sinh năm 1990; Nơi cư trú: khu 8, xã V, huyện L, tỉnh P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Bùi Văn T, sinh năm 1962; mẹ đẻ: Nguyễn Thị O, sinh năm 1964; mẹ kế: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1967; anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là thứ hai; vợ: Liễu Thị C, sinh năm 1992; con: có 01 con sinh năm 2015; tiền án: Bản án hình sự số 10/2011/HSST ngày 19, 20/01/2011 của Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 4 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 03/9/2013. Hiện nay Đ chưa thi hành xong khoản tiền truy thu sung quỹ Nhà nước và án phí dân sự sơ thẩm.

Tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 28/6/2007 Trộm cắp tài sản bị Công an Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử lý hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/7/2019. Hiện nay đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.

(Bị cáo có mặt)

Bị hại: Anh Phạm Ngọc N - sinh năm 1991 (Có mặt) ĐKHKTT: Khu 5, xã V, huyện L, tỉnh P Người làm chứng: Chị Liễu Thị C - sinh năm 1992 (Có mặt) TT: Khu 5, xã V, huyện L, tỉnh P

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 29/3/2019, Bùi Trọng Đ, sinh năm 1990, ở khu 8, xã V, huyện L, tỉnh Phú T, sau khi ăn cơm uống rượu xong, Đ muốn đi chơi nên đã bảo vợ là chị Liễu Thị C, sinh năm 1992 đưa chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honđa LEAD biển số 19S1-235.01 để đi chơi. Chị Ch thấy Đ đã uống nhiều rượu nên không đưa chìa khóa xe cho Đ. Ông Bùi Văn T là bố đẻ của Đ cũng không đồng ý cho Đ đi chơi nên đi ra khóa cửa cổng lại. Đ bực tức dùng chân đạp đổ chiếc xe mô tô Honđa LEAD biển số 19S1-235.01 đang dựng ở sân, sau đó lấy cán chổi bằng gỗ và điếu cày đập nhiều nhát vào xe mô tô, đồng thời dọa nếu chị C không đưa chìa khóa sẽ đốt xe. Thấy vậy, ông T bảo chị C đưa chìa khóa xe mô tô cho Đ. Chị C đưa chìa khóa xe cho Đ, nhưng Đ không khởi động nổ máy được để đi. Đ tiếp tục dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honđa Wave biển số 19S1-278.49 đang dựng trong nhà xe của gia đình ra dựng gần chiếc xe mô tô LEAD biển số 19S1-235.01 và bảo chị C đưa chìa khóa xe này cho Đ, khi có được chìa khóa xe này Đ lại bảo chị C đưa ví tiền của Đ để Đ mang đi chơi, chị C không đưa nên Đ vào nhà cầm 01 con dao rồi đi tìm chị C. Chị C hoảng sợ đi lên tầng hai của gia đình và trèo tường sang nhà hàng xóm trốn. Ông T lúc này đi sang hàng xóm nhờ gọi Công an xã đến giải quyết. Đ không tìm được chị C nên quay ra đạp đổ chiếc xe mô tô Wave biển số 19S1-278.49 làm đổ đè lên xe mô tô LEAD biển số 19S1-235.01, sau đó dùng bật lửa ga có sẵn trong người bật lửa đốt cháy bộ quần áo đang để tại thềm nhà (được dùng làm giẻ lau nhà) rồi vứt vào hai chiếc xe mô tô làm cả hai xe mô tô bốc cháy. Lúc này, trong nhà có ông Bùi Ngọc T, sinh năm 1937 (là ông nội của Đ) đang đứng tại thềm nhà thấy hai xe cháy to nên sợ chạy vào trong nhà, ông T về nhà thấy hai xe đang cháy nên hô hoán mọi người đến giúp chữa cháy. Khi mọi người dập lửa chữa cháy thì Đ dùng thang leo lên và chui qua ô cửa kính nhà tắm của gia đình và thoát ra ngoài rồi bỏ trốn. Hai chiếc xe mô tô bị cháy hoàn toàn chỉ còn lại bộ khung xe. Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, tạm giữ vật chứng.

Ngày 24/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lâm Thao định giá về thiệt hại đối với hai xe mô tô. Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-ĐGTSTT ngày 02/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lâm Thao, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu LEAD biển số 19S1-235.01 giá trị thiệt hại là 31.033.000 đồng (Xe bị cháy hư hỏng hoàn toàn); Xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 19S1-278.49 giá trị thiệt hại là 16.910.000 đồng (Xe bị cháy hư hỏng hoàn toàn). Tổng giá trị thiệt hại của hai xe mô tô là 47.943.000 đồng.

Quá trình điều tra làm rõ: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu LEAD biển số 19S1-235.01 đăng ký xe mô tô mang tên chị Liễu Thị C, chiếc xe này là tài sản chung của chị C và Bùi Trọng Đ, không xác định được phần tài sản riêng của chị C và Bùi Trọng Đ. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 19S1-278.49 đăng ký xe mô tô mang tên anh Phạm Ngọc N, sinh năm 1991, ở khu 5, xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Tháng 02/2019 anh Nhuận vay 6.000.000 đồng của Đô và để lại xe này làm tin, hẹn 10/4/2019 sẽ trả tiền và lấy lại xe. Nhưng ngày 29/3/2019 Đô đã đốt cháy làm hư hỏng hoàn toàn.

Sau khi đốt cháy hai xe mô tô, Bùi Trọng Đ bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 30/7/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao phát hiện Đ có mặt tại khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì nên đã dẫn giải về Công an huyện Lâm Thao làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao Bùi Trọng Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

Cơ quan điều tra thu giữ khi khám nghiệm hiện trường: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honđa LEAD biển số 19S1-235.01, màu sơn vàng, số máy: JF45E0925913, số khung: RLHJF4513FY861825. Tình trạng xe bị cháy hỏng hoàn toàn; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 19S1-278.49, màu sơn: xanh-đen-bạc, số máy: JA39E0712684, số khung: RLHJA390XHY732512. Tình trạng xe bị cháy hỏng hoàn toàn; 01 đoạn gậy gỗ dài 44 cm, đường kính 03cm, một đầu vát nhọn, một đầu là vết gẫy nham nhở; 01 đoạn gậy gỗ dài 29 cm, đường kính 03cm, một đầu bằng, một đầu là vết gẫy nham nhở; 01 mảnh kính vỡ kích thước 0,85x0,5m, dày 2mm (tại nhà vệ sinh của gia đình);

Tạm giữ khi dẫn giải Đ về Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Thao: 01 giấy phép lái xe, số 250133010515 do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 14/11/2013 mang tên Bùi Trọng Đ; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Trọng Đ; 01 sổ bảo hiểm xã hội số 2515012287 do Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ cấp ngày 04/12/2015 tên Bùi Trọng Đ; 01 biên bản bàn giao sổ bảo hiểm xã hội giữa Công ty TNHH JNTC VINA, địa chỉ: Lô B8, KCN Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ với Bùi Trọng Đ;

Chị Liễu Thị C tự giao nộp: 01 sổ bảo hành của Công ty Honđa Việt Nam đối với xe mô tô, loại xe NHX125, màu YR2994, số khung: RLHJF4513FY861825, số máy: JF45E0925913. Chủ xe là Liễu Thị C.

Chiếc bật lửa ga dùng đốt hai xe mô tô Đ đã vứt bỏ trong thời gian bỏ trốn. Chiếc điếu cày Đ dùng đập xe mô tô đã bị cháy cùng với hai xe mô tô nên không thu được.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 24 ngày 26/9/2019, trả lại cho chị Liễu Thị C: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honđa LEAD biển số 19S1-235.01, màu sơn vàng, số máy: JF45E0925913, số khung: RLHJF4513FY861825. Tình trạng xe bị cháy hỏng hoàn toàn; 01 mảnh kính vỡ kích thước 0,85x0,5m, dày 2mm; 01 sổ bảo hành của Công ty Honđa Việt Nam đối với xe mô tô, loại xe NHX125, màu YR2994, số khung: RLHJF4513FY861825, số máy: JF45E0925913. Chủ xe là Liễu Thị C. Trả lại cho anh Phạm Ngọc N: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 19S1-278.49, màu sơn: xanh-đen-bạc, số máy: JA39E0712684, số khung: RLHJA390XHY732512. Tình trạng xe bị cháy hỏng hoàn toàn.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị thiệt hại của anh Phạm Ngọc N là 16.910.000 đồng nhưng anh N chỉ yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng. Chị C đã bồi thường xong (trong đó trả cho anh N 4.000.000 đồng và trừ nợ anh N vay từ trước 6.000.000 đồng). Chiếc xe mô tô LEAD biển số 19S1- 278.01 là tài sản chung của vợ chồng chị bị hư hỏng hoàn toàn, chị không yêu cầu bồi thường.

Căn cứ kết quả xác minh, điều tra, ngày 31/7/2019, Cơ quan Điều tra Công an huyện Lâm Thao ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt tạm giam đối với Bùi Trọng Đ.

Tại bản Cáo trạng số: 49/CT-VKSLT ngày 15/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao đã truy tố bị cáo: Bùi Trọng Đ về tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao giữ quyền công tố luận tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố để cấu thành tội: “Hủy hoại tài sản”; đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Bùi Trọng Đ từ 06(Sáu) tháng đến 09( Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 31/7/2019.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản riêng gì.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận các bên đã thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại, bị hại không đề nghị thêm gì.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng truy tố, bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Thao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và phù hợp với pháp luật.

Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội:

Khoảng 21 giờ ngày 29/3/2019, tại nhà ở của gia đình ở khu 8, xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Bùi Trọng Đ đã có hành vi đốt cháy hoàn toàn chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE biển số 19S1-278.49 của anh Phạm Ngọc Nhuận, sinh năm 1991, ở khu 5, xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trị giá là 16.910.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý; hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự 2015.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo trước khi phạm tôi có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt xem xét bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả, ông nội bị cáo là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự 2015 thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng gì nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị thiệt hại của anh Phạm Ngọc N là 16.910.000 đồng nhưng anh N chỉ yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa anh N xác nhận đã nhận đủ số tiền bị cáo bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì. Cũng tại phiên tòa chị C là vợ bị cáo khai số tiền 4.000.000đồng mà chị bồi thường cho anh N là tiền riêng của bị cáo Đ, chị chỉ là người bồi thường thay cho bị cáo. Đối với số tiền 6.000.000đồng cả anh N và chị C đều khai là tiền riêng của bị cáo Đ cho anh N vay.

Chị Chuyên khai chiếc xe mô tô LEAD biển số 19S1- 278.01 là tài sản chung của vợ chồng chị bị hư hỏng hoàn toàn. Do không xác định được phần tài sản của chị C trong chiếc xe mô tô LEAD và chị C không yêu cầu xem xét giải quyết nên tách ra giải quyết khi chị C xác định được phần quyền của mình và đề nghị giải quyết.

Về xử lý vật chứng: 01 đoạn gậy gỗ dài 44 cm, đường kính 03cm, một đầu vát nhọn, một đầu là vết gẫy nham nhở; 01 đoạn gậy gỗ dài 29 cm, đường kính 03cm, một đầu bằng, một đầu là vết gẫy nham nhở là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Thu giữ 01 giấy phép lái xe, số 250133010515 do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 14/11/2013 mang tên Bùi Trọng Đô; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Trọng Đ; 01 sổ bảo hiểm xã hội số 2515012287 do Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ cấp ngày 04/12/2015 tên Bùi Trọng Đ; 01 biên bản bàn giao sổ bảo hiểm xã hội giữa Công ty TNHH JNTC VINA, địa chỉ: Lô B8, KCN Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ với Bùi Trọng Đ là giấy tờ của bị cáo nên trả lại cho bị cáo;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Bùi Trọng Đ phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Trọng Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 31/7/2019.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Trọng Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại là anh Phạm Ngọc N về số tiền bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh N là 10.000.000đồng và bị cáo đã bồi thường đủ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gậy gỗ dài 44 cm, đường kính 03cm, một đầu vát nhọn, một đầu là vết gẫy nham nhở; 01 đoạn gậy gỗ dài 29 cm, đường kính 03cm, một đầu bằng, một đầu là vết gẫy nham nhở.

Trả lại cho Bùi Trọng Đ 01 giấy phép lái xe, số 250133010515 do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 14/11/2013 mang tên Bùi Trọng Đ; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Trọng Đ; 01 sổ bảo hiểm xã hội số 2515012287 do Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ cấp ngày 04/12/2015 tên Bùi Trọng Đ; 01 biên bản bàn giao sổ bảo hiểm xã hội giữa Công ty TNHH JNTC VINA, địa chỉ: Lô B8, KCN Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ với Bùi Trọng Đ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2019)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Trọng Đ phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo để đề nghị xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ