vanban.org

Bản án 47/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa công an huyện Lạc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn ngày 11/11/2019).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ (… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa công an huyện Lạc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn ngày 11/11/2019).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH
Bản án số: 47/2019/HS -ST
Ngày: 26-11-2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Kính

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Tấn và bà Trịnh Thị Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Giang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2019. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh ngày 06/07/1992 tại xã N, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Xóm K, xã N, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N, sinh năm 1961 và bà Bùi Thị K, sinh năm 1968; bị cáo có vợ là Bùi Thị L, sinh năm 1995 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/08/2019 đến nay; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

+ Ông Bùi Văn D, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Xóm K, xã N, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).

+ Ông Bùi Thành L, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Xóm K, xã N, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bản thân thường xuyên sử dụng ma túy nên khoảng 14 giờ 00, ngày 20/08/2019, Bùi Văn T đi xe mô tô từ nhà đến khu vực huyện K, tỉnh Hòa Bình để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, Bùi Văn T đã gặp một người đàn ông không quen biết và mua được của người đàn ông này 01 (một) gói nilon bên trong chứa chất bột màu trắng (là ma túy) với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng), sau đó T đi xe mô tô trở về nhà.

Đến khoảng 09 giờ 20 phút ngày 21/08/2109, khi Bùi Văn T đang ở nhà tại Xóm K, xã N, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì bị Tổ công tác của Công an huyện Lạc Sơn và Công an xã N gọi hỏi, giáo dục. Tổ công tác đã kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ bên trong túi quần trước bên phải Bùi Văn T đang mặc có 01 (một) gói nilon bên trong chứa chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản phạm pháp quả tang, niêm phong vật chứng đưa Bùi Văn T về trụ sở Công an huyện Lạc Sơn giải quyết.

Ngày 21/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình giám định chất bột màu trắng được niêm phong trong 01(một) phong bì bắt quả tang ghi tên Bùi Văn T. Tại bản kết luận giám định số 215/KLGĐ-CAT - PC09 ngày 28/8/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ghi tên Bùi Văn T gửi giám định có khối lượng 3,64g(ba phẩy sáu mươi tư gam) là ma túy, loại Heroine.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, Bùi Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Văn T ngày 20/08/2019 do không rõ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để xác minh và xử lý.

* Vật chứng của vụ án:

01 (một) phong bì niêm phong nguyên vẹn mẫu giám định chất ma túy của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình mang tên đối tượng Bùi Văn T, bên trong chứa 01 (một) mẫu chất ma túy có khối lượng 3,06 gam loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định. Hiện đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn bảo quản chờ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 11 tháng 11 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn đã truy tố Bùi Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Lạc Sơn, sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 36 đến 42 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu để xuất huỷ đối với khối lượng chất ma túy, loại Heroine cùng cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định.

Bị cáo Bùi Văn T đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Lạc Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai nhận của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/08/2019; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng,biên bản mở niêm phong vật chứng và bản kết luận giám định số 215/KLGĐ-CAT- PC09 ngày 28/8/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình; lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 09 giờ 20 phút, ngày 21/08/2019 tại nhà Bùi Văn T thuộc xóm K, xã N, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Bùi Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,64g (ba phẩy sáu mươi tư gam)ma túy, loại Heroine trong túi quần bên phải đang với mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy, việc bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm hại đến chính sách về quản lý chất gây nghiện của Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ sai trái do hành vi gây ra. Song vì là đối tượng nghiện ma túy nên bị cáo đã cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do vậy, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện.

Xét nhân thân của bị cáo: Trước khi phạm tội bị cáo Bùi Văn T chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi; bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mường) cư trú tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là các tình tiết cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự trong quá trình lượng hình. Bị cáo Bùi Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho Bùi Văn T ngày 20/08/2019. Xét thấy chưa có cơ sở xem xét, xử lý do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết cụ thể của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn là cần thiết.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung. Song xem xét cụ thể trường hợp của bị cáo, xét thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là không có tính khả thi. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn T.

Về vật chứng vụ án: Xét thấy cần tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) mẫu chất ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: + Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. + Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/08/2019. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu để xuất huỷ đối với 01(một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình số 112 ngày 21/08/2019 tên đối tượng Bùi Văn T; tên mẫu Heroine; số lượng 01 (3,06g) cùng toàn bộ vỏ bao gói. Mép dán có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa công an huyện Lạc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn ngày 11/11/2019).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ