vanban.org

Bản án 47/2019/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vắng mặt bà Diệp Thị H.

Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Diệp Thị H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng T bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Buộc bà T phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà H tổng số tiền là 3.833.000 (ba triệu tám trăm ba mươi ba ngàn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bà H yêu cầu bà T bồi thường thiệt hại về sức khỏe"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt bà Diệp Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2019/DS-ST
Ngày: 05-11-2019
V/v đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Công Dịnh

2. Ông Nguyễn Văn Chính

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 187/2019/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2019 về “Đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2019/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Diệp Thị H, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện Th, tỉnh Cà Mau

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T (tên gọi khác là L), sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 11, xã B, huyện Th, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 04/9/2019, nguyên đơn bà Diệp Thị H trình bày:

Vào ngày 13/5/2019, bà H bị bà Nguyễn Thị Hồng T xông vào nhà đánh bị thương tích phải điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Thới Bình. Từ lúc nằm viện cho tới khi xuất viện, phía bà T không đến thăm hỏi và hỗ trợ tiền điều trị cho bà H. Sau khi Hội đồng an ninh trật tự xã mời hòa giải, bà H đã chấp nhận giảm số tiền yêu cầu bồi thường trước đây là 6.300.000 đồng còn 3.900.000 đồng, nhưng bà T vẫn không chịu bồi thường.

Nay bà H yêu cầu bà T bồi thường theo quy định của pháp luật, bao gồm chi phí điều trị, đi lại, ăn uống, tiền công lao động, tổn thất tinh thần, tổng cộng là 6.300.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay: Bà T thừa nhận vào khoảng 18 giờ ngày 13/5/2019, bà T có dùng tay nắm tóc và tát vào mặt bà H 03 cái. Nay bà T đồng ý bồi thường cho bà H theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn là bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận xét xử vắng mặt đương sự này.

Ngày 22/5/2019, Công an xã Tân Bằng, huyện Thới Bình lập Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội đối với bà Nguyễn Thị Hồng T về hành vi xâm hại sức khỏe người khác tại ấp N, xã T, huyện Th vào ngày 13/5/2019. Tại Tờ tự nhận ngày 16/5/2019, Biên bản ghi lời khai do Công an xã Tân Bằng lập ngày 16/5/2019 cũng như tại phiên tòa, bà T thừa nhận vào khoảng 18 giờ ngày 13/5/2019, bà T có dùng tay nắm tóc và tát vào mặt bà H 03 cái.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 567/2013/TTYT-CN ngày 20/5/2019 của Trung tâm Y tế huyện Thới Bình, thể hiện, bà H nhập viện ngày 13/5/2019, ra viện ngày 20/5/2019, lý do vào viện bị đau nhức, tình trạng vào viện: Vùng cổ nề đau, bàn chân phải nề đau, vùng đỉnh đầu nề. Tại Giấy ra viện do Trung tâm Y tế huyện Thới Bình cấp cho bà H ngày 20/5/2019, thể hiện: Vào viện lúc 22 giờ 29 phút ngày 13/5/2019, ra viện lúc 16 giờ 30 phút ngày 20/5/2019; chẩn đoán: Đa thương khai do bị đánh. Ngày 21/5/2019, bà H có đơn không yêu cầu giám định thương tích.

Với chứng cứ nêu tại mục [2] và [3] nói trên, xác định vào lúc khoảng 18 giờ ngày 13/5/2019, tại nhà bà H, sau khi cự cãi, bà T có dùng tay nắm tóc và tát bà H 03 cái, hậu quả làm bà H phải điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Thới Bình từ ngày 13/5/2019 đến ngày 20/5/2019 là thực tế có xảy ra.

Quá trình điều trị, phía bà H có bị thiệt hại về sức khỏe. Vì vậy, việc bà H yêu cầu bà T bồi thường thiệt hại là có cơ sở. Theo các hóa đơn, chứng từ có trong hồ sơ, các khoản thiệt hại, gồm: 2.510.300 đồng chi phí điều trị; 350.000 đồng chi phí đi lại; 1.400.000 đồng tiền công lao động trong thời gian điều trị của 02 người (người bệnh và người nuôi bệnh); 1.490.000 đồng tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Tổng cộng là 5.750.000 (năm triệu bảy trăm năm mươi ngàn, tính tròn) đồng. Tuy nhiên, do phía bà H cũng có phần lỗi do có lời nói xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm người khác và bị Công an xã Tân Bằng phạt tiền tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPVPHC ngày 29/5/2019. Do đó, bà H tự gánh chịu 1/3 thiệt hại. Buộc bà T phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà H 2/3 thiệt hại tương ứng với số tiền là 3.833.000 (ba triệu tám trăm ba mươi ba ngàn đồng, tính tròn số) đồng. Trường hợp chậm thanh toán số tiền này, bà T còn phải chịu thêm phần lãi suất theo quy định.

Với số tiền bồi thường thiệt hại nói trên, thì yêu cầu của bà H được chấp nhận 01 phần. Không chấp nhận yêu cầu của bà H về việc yêu cầu bà T bồi thường số tiền là 2.467.000 (hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy ngàn) đồng.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận 01 phần, nên bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Yêu cầu của bà H thuộc trường hợp không phải nộp án phí, nên bà H được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với phần không được chấp nhận.

Sau khi Tòa án thụ lý và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ vào ngày 18 tháng 10 năm 2019, đến ngày 25 tháng 10 năm 2019, bà T mới có đơn yêu cầu đề nghị Tòa án xem xét, lấy lại công bằng do bà H có hành vi xúc phạm cha ruột và bà nội của bà T. Những người bị thiệt hại do bà H có lời nói xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, có quyền khởi kiện yêu cầu bà H bồi thường theo quy định của pháp luật tại vụ án dân sự khác.

Tại phiên tòa: Bị đơn có mặt, nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày tuyên án; nguyên đơn vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật dân sự; các Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vắng mặt bà Diệp Thị H.

2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Diệp Thị H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng T bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

3. Buộc bà T phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà H tổng số tiền là 3.833.000 (ba triệu tám trăm ba mươi ba ngàn) đồng.

4. Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bà T không chịu thanh toán cho bà H khoản tiền bồi thường nói trên, thì hàng tháng, bà T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

5. Không chấp nhận yêu cầu của bà H kiện đòi bà T bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền là 2.467.000 (hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy ngàn) đồng.

6. Bà T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

7. Bà H được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với phần bồi thường không được chấp nhận.

8. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ