vanban.org

Bản án 47/2018/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 27/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. 2.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp cát tông màu trắng, hình chữ nhật, đựng pháo đã được niêm phong bằng 3 tem niêm phong của Hải Quan và có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Tịch thu phát mại xung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động đã niêm phong. Xác nhận toàn bộ vật chứng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị T - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47 /2018/HS-ST
Ngày: 27-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thu Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Quý Nam

Bà Vương Ánh Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 431/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Hoàng Thị T. Sinh ngày 24-8-1976 tại xã Tr, huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Nơi cư trú: Xóm M, xã Tr, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Quốc Ng (sinh năm 1942) và bà: Lục Thị L (sinh năm 1948). Có chồng: Lý Triệu C (sinh năm 1972) và 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi liên quan đến vụ án: Lý Triệu C; Sinh năm 1972.

Trú tại: Xóm M, xã Tr, huyện H, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

- Người làm chứng: 1. Hoàng Thị P; Sinh năm 1972. Trú tại: Xóm C, xã T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt. 2. Hoàng Thị L; Sinh năm 1982. Trú tại: Phố L, thị trấn X, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hoàng Thị T và Hoàng Thị L là hàng xóm ở tổ L, thị trấn X, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Ngày 11-4-2018, L nhờ T mua giúp 02 hộp pháo để đốt trong dịp tết Thanh Minh (ngày 3/3 âm lịch). T đồng ý và gọi điện thoại cho một người bạn hàng mua bán gạo, tên là T1 ở bên Trung Quốc (không biết rõ họ và địa chỉ cụ thể) nhờ mua pháo giúp. Sáng ngày 13-4-2018, Hoàng Thị T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 11A-022.xx vào xóm Th, xã M1, huyện H, tỉnh Cao Bằng với mục đích đối khớp sổ sách mua bán gạo với T1. Khi gặp nhau, T1 đưa cho T 04 (bốn) hộp, 02 (hai) vỉ, 10 (mười) quả pháo; T1 nói biếu để T đốt vào dịp tảo mộ và không lấy tiền vì hai người là bạn làm ăn. Nhận được số pháo nói trên, T dùng điện thoại chụp và gửi ảnh đến máy điện thoại của Hoàng Thị L. Nhận được tin nhắn có hình ảnh pháo, L đã xem và nhắn tin đồng ý. Hoàng Thị T cho pháo vào cốp phía sau xe ô tô biển kiểm soát 11A-022.xx, rồi cùng T1 đối chiếu sổ sách mua bán gạo. 18 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô về nhà, khi đi được khoảng 02 km thì bị tổ công tác Biên phòng M1 thuộc đồn Biên phòng cửa khẩu V và Đội kiểm soát Chống buôn lậu thuộc Cục hải quan tỉnh Cao Bằng kiểm tra, phát hiện tại khoang sau xe ô tô có: 02 (hai) hộp pháo có chiều cao 14cm, bề mặt 17cm x 12cm; 02 (hai) hộp pháo có chiều cao 17cm, bề mặt 14cm x 14cm; 10 (mười) quả pháo hình trụ, cao 14cm, đường kính 06cm; 02 (hai) vỉ pháo, mỗi vỉ 20 quả. Số pháo nói trên có tổng trọng lượng là 07 kg. Tổ công tác Biên phòng và Hải quan đã lập biên bản đưa người, tang vật, phương tiện về Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng xử lý.

Ngày 18-4-2018, Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng ra Quyết định Trưng cầu giám định tang vật thu giữ (pháo) gửi Viện khoa học hình sự - Bộ Công an. Tại kết luật giám định số 112A/C54-P2, ngày 19-4-2018 của Viện khoa học hình sự

- Bộ Công an kết luận: Các mẫu vật gửi đến giám định là Pháo nổ và Pháo có đầy đủ đặc tính của Pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt hoặc kính thích có gây tiếng nổ).

Bản Cáo trạng số: 34/CT-VKSCB ngày 15-8-2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Thị T khai: Do có trình độ hiểu biết thấp, mặc dù đã được tuyên truyền, nhưng vào những dịp Tết Nguyên đán và Tết Thanh minh bị cáo vẫn thấy nhiều người sử dụng pháo để đốt, nên cho rằng có thể đốt pháo khi gia đình đi tảo mộ. Sau khi nhận pháo từ T1 và bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ vì lo bị phạt nặng nên tại các buổi làm việc ban đầu bị cáo đã khai không đúng sự thật. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng. Đối với chiếc xe ô tô do bị cáo dùng để vận chuyển pháo từ xã M1, huyện H về huyện Q là tài sản chung của hai vợ chồng, Hoàng Thị T và Lý Triệu C đã vay 500.000.000đ,00 của chị Hoàng Thị P để mua chiếc xe này và đến nay vẫn chưa có điều kiện trả lại tiền cho chị P. Bị cáo nhất trí với cách xử lý của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh về việc trả lại chiếc xe cho vợ chồng mình và không có đề nghị nào khác.

Người làm chứng Hoàng Thị L khai: Ngày 11-4-2018, L có nhờ Hoàng Thị T mua 02 hộp pháo (loại pháo bắn lên trời nổ) mục đích đem về đốt trong ngày thanh minh (ngày tảo mộ 3 tháng 3 âm lịch). Khi nhờ mua pháo L và T không nói đến việc thanh toán tiền, L cũng chưa đưa tiền cho T, chỉ nghĩ nếu mua được thì sẽ thanh toán tiền sau. Nhưng do T bị tạm giữ, không lấy pháo về được nên L không trả tiền, L cũng không biết hai hộp pháo có giá bao nhiêu.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội “Vận chuyển hàng cấm” và khẳng định việc điều tra, truy tố đối với vụ án đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hành vi vận chuyển 07 kg pháo nổ của bị cáo Hoàng Thị T đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước và gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; khoản 1 Điều 35; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng các tông bên trong đựng pháo, còn nguyên giấy niêm phong Hải quan.

- Tịch thu phát mại xung công quỹ nhà nước 01 (một) máy điện thoại di động trong phong bì thư còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: Điện thoại tạm giữ của Hoàng Thị T, mặt sau có các chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Đội kiểm soát Hải quan, Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng. Bị cáo Hoàng Thị T nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng và không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Hoàng Thị T xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất, để bị cáo có cơ hội cải tạo thành người lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Thị T thừa nhận nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phản ánh đúng thực tế hành vi phạm tội và truy tố bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm” là đúng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan do Đội kiểm soát hải quan - Cục hải quan tỉnh Cao Bằng lập hồi 18 giờ 15 phút ngày 13 tháng 4 năm 2018; biên bản mở niêm phong lấy mẫu giám định và niêm phong lại tang vật vi phạm số: 01/BB-HC9 vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 17 tháng 4 năm 2018; bản kết luận giám định số: 112A/C54-P2 ngày 19 tháng 4 năm 2018 của Tổng cục cảnh sát Viện khoa học hình sự; cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 13 tháng 4 năm 2018, tại địa phận xóm Th, xã M1, huyện H, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Cục hải quan tỉnh Cao Bằng đã phát hiện bắt quả tang Hoàng Thị T đang vận chuyển 07 kg Pháo nổ trên xe ô tô biển kiểm soát 11A-022.xx. Kết quả điều tra xác định Hoàng Thị T vận chuyển số pháo này về để đốt vào dịp tết Thanh Minh (ngày 3/3 âm lịch). Kết quả giám định số: 112A/C54-P2, ngày 19 tháng 4 năm 2018 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Các mẫu vật gửi đến giám định là Pháo nổ và có đầy đủ đặc tính của Pháo nổ.

Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước trong việc quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa mà nhà nước cấm sản xuất, kinh doanh trên thị trường, tạo điều kiện cho việc sử dụng pháo nổ tồn tại, gây mất trật tự trị an nơi cư trú và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm ở địa phương.

. Về nhân thân của bị cáo Hoàng Thị T và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo và tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, nhận thức về pháp luật có phần hạn chế; quá trình sinh sống tại địa phương cơ bản chấp hành tốt chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Mặt khác, khi bị cáo đang trên đường vận chuyển pháo thì đã bị cơ quan chức năng phát hiện ngăn chặn kịp thời, chưa gây hậu quả xấu cho xã hội. Bố mẹ của bị cáo là ông Hoàng Quốc Ng và bà Lục Thị L đều có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba và Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, đồng thời cũng tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội tự cải tạo thành người có ích cho xã hội. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo… nên không cần thiết phải bắt bị cáo cách ly xã hội mà vẫn bảo đảm tác dụng giáo dục và phòng ngừa. Việc quyết định buộc bị cáo phải chịu phạt một khoản tiền vì hành vi trái pháp luật đã thể hiện sự nghiêm khắc, nhưng cũng thể hiện tính nhân đạo sâu sắc trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội. [4]. Việc xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra người có quyền lợi liên quan Lý Triệu C khai: Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Creta, màu sơn trắng, biển kiểm soát 11A-022.xx là tài sản chung của hai vợ chồng, được mua từ tiền tiết kiệm và tiền vay chị Hoàng Thị P. Nhưng do vợ biết lái và hay đi lại nên khi đi đăng ký xe đã đứng tên vợ là Hoàng Thị T. Việc Hoàng Thị T sử dụng chiếc xe để chở pháo anh C không biết. Anh đã có đơn xin đề nghị xem xét trả lại chiếc ô tô và được giải quyết. Hiện nay, gia đình đã nhận lại xe ô tô và các giấy tờ có liên quan. Đồng thời, người làm chứng Hoàng Thị P cũng khai: Năm 2015, P có cho Hoàng Thị T vay 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng), mục đích T vay tiền là để mua xe ô tô. Khi vay tiền có viết giấy vay tiền, có xác nhận của chính quyền địa phương, lãi suất tính theo lãi suất ngân hàng và đến nay vợ chồng T cũng chưa hoàn trả tiền cho người làm chứng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xác định chiếc xe ô tô biển kiểm soát 11A-022.xx đứng tên đăng ký Hoàng Thị T là tài sản chung của bị cáo và chồng là Lý Triệu C, được mua từ tiền tiết kiệm và tiền vay của chị Hoàng Thị P (Trú tại: Xóm C, xã T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng), nguồn gốc tiền không phải do phạm tội mà có. Hành vi vận chuyển pháo của T chỉ nhằm mục đích sử dụng và có số lượng ít. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đã xem xét giải quyết đơn xin của gia đình Hoàng Thị T và trả lại xe ô tô biển kiểm soát 11A-022.xx, các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu tại Quyết định xử lý vật chứng số 09 ngày 6/8/2018 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Các vật chứng khác: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng cát tông bên trong đựng pháo, còn nguyên giấy niêm phong Hải quan.

- Tịch thu phát mại xung công quỹ nhà nước 01 (một) máy điện thoại di động trong phong bì thư còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: Điện thoại tạm giữ của Hoàng Thị T, mặt sau có các chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Đội kiểm soát Hải quan, Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng.

Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và quan điểm điểm xử lý vật chứng của vụ án là đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính nghiêm khắc của pháp luật… nên cần được chấp nhận.

Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa hiểu biết các quy định mới của Nhà nước ta về pháo nổ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị cho hưởng mức án thấp nhất mà bị cáo đề nghị khi được nói lời sau cùng trước khi nghị án.

. Đối với những đối tượng khác có liên quan đến vụ án:

- Người đàn ông tên là T1 (người Trung Quốc) đã biếu Hoàng Thị T số pháo, bị cáo không biết rõ họ và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ điều kiện để xác minh làm rõ.

- Hoàng Thị L là người đã nhờ bị cáo T mua giúp 02 hộp pháo để đem về sử dụng trong dịp tết Thanh Minh nhưng L chưa đưa tiền cho T và cũng chưa nhận được pháo nên không có căn cứ để xem xét xử lý vi phạm. [6]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo Hoàng Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. 2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; khoản 1 Điều 35; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 50.000.000đ,00 (Năm mươi triệu đồng) xung công quỹ nhà nước. Khoản tiền trên kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo chưa thi hành thì hàng tháng sẽ phải chịu lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định. Tương ứng với thời gian chưa thi hành bản án. 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp cát tông màu trắng, hình chữ nhật, đựng pháo đã được niêm phong bằng 3 tem niêm phong của Hải Quan và có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- Tịch thu phát mại xung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động đã niêm phong. Xác nhận toàn bộ vật chứng trên đã chuyển đến Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Cao Bằng, tại biên bản giao, nhận vật chứng số 47 ngày 13 tháng 8 năm 2018. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Thị T phải chịu 200.000đ,00 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Lý Triệu C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án./.

Cỡ chữ