vanban.org

Bản án 47/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 22/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm h, p, g khoản 1 Điều 46; Điều 47 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999. Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xử phạt: Nguyễn Văn L 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/10/2017 (bị cáo đã chấp hành xong hình ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 47/2018/HS-ST
Ngày: 22-3-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trương Ngọc Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Phước Lộc

2/ Ông Trịnh Phước Đức

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Cẩm Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Ngọc Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2017/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2018 và Thông báo mở lại phiên tòa ngày 07/3/2018 đối với bị cáo:

- Nguyễn Văn L, sinh năm:1991, tại: Hồng Dân, Bạc Liêu; Nơi ĐKTT: ấp N, xã H, huyện D, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn A và bà Lê Thị L; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ 19/10/2017 (có mặt)

- Người bị hại: Hà Thanh H, sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 18/10/2017, Nguyễn Văn L đi uống bia cùng với một người tên T (chưa rõ nhân thân) tại quán Karaoke Phố thuộc khu phố J, thị trấn D, huyện P. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì cả hai nghỉ uống, T đi về nhà T, còn L đi bộ về hướng ấp Đ, xã D, huyện P. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 19/10/2017, khi L đi đến đoạn đường trước công ty Nhiệt đới thì nhìn thấy chiếc xe mô tô, loại Sirius, biển số 66P1-707.67 của anh Hà Thanh H đang đậu phía trước nhà nên L nảy sinh ý định trộm cắp xe để làm phương tiện đi lại. L đi đến lấy chìa khóa có sẵn trong túi quần mở khóa xe chạy về nhà của chị Ngô Đình Lệ T (trong nhà không có ai trông coi) tại khu phố J, thị trấn D ngủ. Đến khoảng 08 giờ sáng cùng ngày, thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen đỏ, biển số 66P1-707.67, đã qua sử dụng (đã trao trả chủ sở hữu).

Tại bản kết luận về giá trị tài sản trong tố tụng hình sự số 73/KL-HĐĐG ngày 30/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phú Quốc kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đen đỏ, biển số kiểm soát 66P1-707.67, số khung C640AY283974, số máy 5C64283980 có giá trị là 4.560.000đ.

Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận số 73/KL-HĐĐG ngày 30/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phú Quốc.

Bản cáo trạng số: 18/KSĐT-KT ngày 11 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 và Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 05 tháng 03 ngày tù đến 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm đề nghị HĐXX miễn xét.

Về tang vật: Đã trả cho chủ sở hữu đề nghị HĐXX miễn xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố: Vào khoảng 02 giờ sáng ngày 19/10/2017 Nguyễn Văn L đã lấy trộm một chiếc xe mô tô hiệu Sirius của anh Hà Thanh H tại công ty Nhiệt đới huyện Phú Quốc. Qua định giá chiếc xe có giá trị là 4.560.000đ

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người bị hại một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời để phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại tài sản đã thu hồi trả cho bị hại nên có các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, p, g khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và đã bị tạm giam được 05 tháng 03 ngày tù cũng đã đủ giáo dục răn đe bị cáo nên Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm nào khác.

Về tang vật: Đã trả cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử miễn xét

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm h, p, g khoản 1 Điều 46; Điều 47 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999. Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Văn L 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/10/2017 (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.)

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội nào khác.

3. Về tang vật: Đã trả cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử miễn xét

4. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Báo cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt thời hạn được tính kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ