vanban.org

Bản án 47/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 14/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Kim O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Kim Oanh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Kim O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:47/2018/HS-ST
Ngày 14 tháng 9 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH V

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Kiên Toàn

Ông Nguyễn Văn Sâm

-Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh, Thư ký Toà án nhân dân huyện L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh V tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Nga- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Hà Kim O, sinh ngày 21/7/1979.

Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh V; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt nam; con ông Hà Kim Hợi, sinh năm 1953 và bà Đỗ Thị Hải, sinh năm 1954; vợ: Thân Thị Hà, sinh năm 1985; con có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 05/12/2017 bị Công an huyện Sông Lô xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. O đã chấp hành nộp phạt xong ngày 06/12/2017 và hiện tại chưa được xoá tiền sự.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980, vắng mặt Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh V.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1982, vắng mặt Nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh V.

Chị Thân Thị H, sinh năm 1985, có mặt Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 04/02/2018 Hà Kim O, sinh năm 1979 trú tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh V mượn xe máy của vợ là chị Thân Thị H, sinh năm 1985 mục đích đi mua men về nấu rượu. Trên đường đi O đến nhà anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 ở cùng thôn là bạn của O. Khi đi đến thấy cổng nhà anh H không khoá, O đứng ngoài cổng gọi nhưng không có ai trả lời, O để xe máy ở đó rồi mở cổng đi bộ vào trong. Khi đi đến sân nhà anh H không thấy có ai ở nhà nên O nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. O đi đến góc sân giáp giếng nước thấy có 01 chiếc xe cải tiến (loại xe bò kéo tay) đang để tại đó, O dắt chiếc xe cải tiến ra cổng gác vào sau xe máy của mình rồi mang đi tiêu thụ. O đi đến xã X, huyện L bán chiếc xe cải tiến trộm cắp được cho chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1982 trú tại thôn Đ, xã X là người thu mua sắt vụn được 550.000đ.

Ngay sau khi nhận được tin báo, cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện L đã tiến hành xác minh và thu giữ chiếc xe cải tiến mà O trộm cắp của gia đình anh H - là vật chứng của vụ án tại quán thu mua sắt vụn của chị Nguyễn Thị Kim O.

Căn cứ Quyết định trưng cầu định giá tài sản số 243 ngày 26/3/2018 của cơ quan CSĐT Công an huyện L, ngày 11/4/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L có văn bản số 170/KL-HĐĐG kết luận: “01 xe cải tiến có phần thân xe bằng kim loại, màu xám trắng, kích thước 120cm x 70cm x 100cm, phần càng xe dài 110cm được định giá 1.500.000đ”.

Sau khi bán tài sản trộm cắp được 550.000đ, Hà Kim O đã mang đi tiêu xài cá nhân hết 260.000đ, còn lại 290.000đ đã giao nộp cho cơ quan CSĐT Công an huyện L. Đến ngày 24/7/2018, O giao nộp tiếp số tiền 260.000đ để khắc phục hậu quả.

Tại Cáo trạng số: 52/CT- VKS ngày 22 tháng 8 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố bị cáo Hà Kim O về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hà Kim O từ 06 đến 09 tháng tù. Về hình phạt bổ sung, phạt bị cáo từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ để sung quỹ Nhà nước và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Hà Kim O đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thừa nhận: khoảng 10 giờ ngày 04/02/2018, lợi dụng sơ hở của gia đình anh Nguyễn Văn H, bị cáo đã lấy trộm 01 chiếc xe cải tiến trị giá 1.500.000đ và bán được 550.000đ, bị cáo tiêu sài cá nhân hết 260.000đ còn lại 290.000đ đã giao nộp cho cơ quan điều tra. Bị cáo đã có 01 tiền sự về tội “ trộm cắp tài sản” nên lần phạm tội này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai của người bị hại, tang vật chứng đã thu hồi được, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hà Kim O phạm tội “Trộm cắp tài sản ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều luật quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá … dưới 2.000.000đ nhưng thuộc các trường hợp sau đây , thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

a. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”.

Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo trộm cắp tài sản giữa ban ngày. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận bất bình trong nhân dân. Vì vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục, phòng ngừa chung.

Khi lượng hình, cần xem xét đến tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: về tình tiết tăng nặng: không có, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Song cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung : Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo O thấy rằng, cần xử phạt bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

Đối với chị Nguyễn Thị Kim O là người mua chiếc xe cải tiến của Hà Kim O, tuy nhiên chị O không biết đây là tài sản do bị cáo O trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với số tiền 550.000đ chị O đã nhận lại ngày 25/7/2018 và không có yêu cầu gì khác nên cần được xác nhận.

Đối với chiếc xe mô tô BKS: 88D1- 341.56, 01 đăng ký xe đứng tên chị Thân Thị H bị cáo mượn của chị H, chị H không biết bị cáo dùng xe để đi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý và đã trả lại chị H là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe cải tiến của anh Nguyễn Văn H, ngày 25/7/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã trả lại anh H là đúng chủ sở hữu, anh H không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo nên cần được xác nhận.

Các hành vi tố tụng, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Hà Kim O phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hà Kim O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử phạt: Hà Kim O 06 (sáu)tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 5.000.000đ sung quỹ Nhà nước.

- Xác nhận ngày 25/7/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại anh Nguyễn Văn H 01 chiếc xe cải tiến và trả lại chị Nguyễn Thị Kim O số tiền 550.000đ, trả lại chị Thân Thị H 01 xe mô tô BKS: 88D1- 341.56, 01 đăng ký xe đứng tên chị Thân Thị H là đúng chủ sở hữu.

Về án phí: Bị cáo Hà Kim O phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ