- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Hằng ly hôn anh Nguyễn Danh Nh"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Danh Nh.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHDÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47 /2018/HNGĐ – ST Ngày 7 tháng 9 năm 2018 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; |
NHDANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHDÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.
Các Hội thẩm Nhdân:
1. Ông: Lục Văn Vãn;
2. Bà: Vũ Thị Hòa;
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thanh Huyền - Thư ký Toà án Nhdân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Ngày 07/9/2018, tại trụ sở Toà án Nhdân thành phố Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 168/2018/TLST- HNGĐ ngày 09/7/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41 /2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2018 và Quyết định Hoãn phiên toà số 31/QĐST - HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H.
Địa chỉ: Thôn 9, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Danh Nh.
Địa chỉ: Thôn 9, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 27/6/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Danh Nh kết hôn với nhau có đăng ký ngày 18/12/2012, Tại Uỷ ban Nhdân xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Trước khi kết hôn chúng tôi có tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc, sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hoà thuận, được năm năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên Nhlà do anh Nhkhông chịu làm ăn, chơi cờ bạc, gia đình hai bên đã khuyên giải nhưng anh Nhkhông khắc phục được, đến nay tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, thực tế vợ chồng đã sống ly thân được 2 tháng, không quan tâm đến nhau. Nay chị Hxét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chi được ly hôn với anh Nguyễn Danh Nh.
Về con: Vợ chồng sinh được hai con chung, cháu thứ nhất Nguyễn Thị Ngọc Trinh, sinh ngày 08/10/2013; cháu thứ hai Nguyễn Ngọc Anh, sinh ngày 01/12/2016. Nếu được ly hôn chị Hcó nguyện vọng nuôi cả hai cháu, không yêu cầu anh Nhcấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại chị bán hàng tạp hóa chợ Duyên Hải thu nhập hàng tháng 10 triệu đồng.
Về tài sản: Chị không yêu cầu toà án giải quyết.
Tại bản khai ngày 11/7/2018 và quá trình giả quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Danh Nh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh công nhận về thời gian và địa điểm đăng ký kết như chị Htrình bày là đúng, anh hoàn toàn nhất trí.Trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu, hôn Nhtrên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian như chị Htrình bày thì phát sinh mâu thuẫn, nhưng anh xét thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, có khả năng khắc phục được, vì vậy anh không đồng ý ly hôn.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh xác nhận có 02 người con chung đúng như chị Hđã khai, trong trường hợp phải ly hôn thì anh xin nuôi cháu thứ nhất Nguyễn Thị Ngọc Trinh, không yêu cầu chị Hcấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với vụ án này Tòa án đã đưa ra hòa giải hai lần nhưng chị Hvẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn, anh Nguyễn Danh Nh không đồng ý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện anh Nguyễn Danh Nh về việc ly hôn, đây là những tranh chấp về hôn Nhvà gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, anh Nguyễn Danh Nh có địa chỉ tại thành phố Lào Cai, Tòa án Nhdân thành phố Lào Cai thụ lý vụ án để giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên Tòa hôm nay chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Danh Nh vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ đúng theo qui định pháp luật.
Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 điều 227; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Danh Nh.
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Danh Nh kết hôn với nhau có đăng ký tại Uỷ ban Nhdân xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số 01 vào ngày 18 tháng 12 năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, như vậy hôn Nhnày là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ và công nhận.
Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn. Anh Nguyễn Danh Nh không nhất trí.
Xét thấy trong quá trình chung sống thì chị Hvà anh Nhđã sống ly thân được 3 tháng, nguyên Nhphát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến không có tiếng nói chung, anh Nhkhông chịu làm ăn, hay chơi bời lô đề, nợ nần nhiều người, xuất phát từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau dẫn đến việc chị phải đi thuê phòng để ở, tại đơn xin xác nhận ngày 10/8/2018 thì chính quyền địa phương xác nhận chị Hvà anh Nhđã sống ly thân, tại các biên bản hòa giải thì anh Nhxác nhận có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng, như vậy trong quá trình chung sống chị Hvà anh Nhphát sinh mâu thuẫn là có thật, xét thấy mâu thuẫn của anh chị là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn Nhkhông đạt được, chấp nhận yêu cầu của chị Hằng, không chấp nhận yêu cầu của anh Nhân, áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn Nhvà Gia đình năm 2014 xử cho chị Hđựợc ly hôn anh Nguyễn Danh Nh.
Về con: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Danh Nh chung sống với nhau sinh được 02 cháu, cháu thứ nhất Nguyễn Thị Ngọc Trinh, sinh ngày 08/10/2013, cháu thứ hai Nguyễn Ngọc Anh, sinh ngày 01/12/2016.
Tại phiên Tòa chị Hxin được nuôi cả hai cháu, xét thấy từ khi vợ chồng sông ly thân, cả hai cháu đang ở với chị, bản thân chị Hbán hàng tạp hóa chợ Duyên Hải thu nhập hàng tháng 10.000.000đ/tháng, các cháu còn nhỏ cần bàn tay chăm sóc của mẹ, anh Nhcũng muốn nuôi cháu Nguyễn Thị Ngọc Trinh nhưng không chứng minh được điều kiện nuôi con, bản thân không có thu nhập, vì vậy không chấp nhận yêu cầu của anh Nhân, giao cả hai cháu cho Hnuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật hôn Nhvà gia đình năm 2014. Chị Hkhông yêu cầu anh Nhcấp dưỡng tiền nuôi con chung, vì vậy hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản: Chị Hkhông yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Hphải chịu án phí ly hôn theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn Nhvà Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 điều 227; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Danh Nh.
2. Về con: Chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu cháu Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 08/10/2013 và cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 01/12/2016 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Danh Nh không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo biên lai số 0005271 ngày 03/7/2018. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TA tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND TP Lào Cai; - Đương sự (2); - THA DS; - UBND xã Đồng Tuyển; - Lưu TA,VP,HS. Thẩm phán Hoàng Duy Chiến; Báo cáo án; Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H. Địa chỉ: Thôn 9, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Bị đơn: Anh Nguyễn Danh Nh, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn 9, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: có đăng ký ngày 18/12/2012, Tại UBND xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Trước khi kết hôn chúng tôi có tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc, sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hoà thuận, được năm năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên Nhlà do anh Nhkhông chịu làm ăn, chơi cờ bạc, gia đình hai bên đã khuyên giả nhưng anh Nhkhông khắc phục được, đến nay tình cảm vợ chồng trầm trọng hơn, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân được 2 tháng, không quan tâm đến nhau. Nay chị Hxét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giả quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Danh Nh. Trinh, sinh ngày 08/10/2013, cháu thứ hai Nguyễn Ngọc Anh, sinh ngày 01/12/2016. Nếu được ly hôn chị Hcó nguyện vọng nuôi cả hai cháu, không yêu cầu anh Nhcấp dưỡng nuôi con chung.Hiện tại chị bán hàng tạp hóa chợ Duyên Hải thu nhập hàng tháng 10 triệu đồng. Về tài sản: Chị không yêu cầu toà án giải quyết. kết như chị Htrình bày là đúng, anh hoàn toàn nhất trí. Trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu, hôn Nhtrên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian như chị Htrình bày thì phát sinh mâu thuẫn, nhưng anh xét thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, có khả năng khắc phục được, vì vậy anh không đồng ý ly hôn. con chung đúng như chị Hđã khai, trong trường hợp phải ly hôn thì anh xin nuôi cháu thứ nhất Nguyễn Thị Ngọc Trinh, không yêu cầu chị Hcấp dưỡng tiền nuôi con chung. * Về tài sản: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết. nguyên quan điểm như đơn khởi kiện. QUAn Điểm đình năm 2014. Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử: 1. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Danh Nh. giáo dục cháu cháu thứ nhất Nguyễn Ngọc Trinh, sinh ngày 08/10/2013, cháu thứ hai Nguyễn Ngọc Anh, sinh ngày 01/12/2016 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. được cản trở. phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo biên lai số 0005271 ngày 03/7/2018. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ. TP Hoàng Duy Chiến báo cáo vụ án ly hôn: 1.Nguyên đơn: Chị Hoàng Thuỳ Giang. Địa chỉ: Tổ 28, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Danh Nh. Lào Cai. Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Nhdân phường Pom Hán, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai vào ngày 29/6/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn vài năm đầu thì phát sinh mâu thuân thuẫn. Nguyên Nhlà do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến không có tiếng nói chung, không có sự cảm thông, chia sẻ, cuộc sống chung không hòa hợp. Từ đó vợ chồng thường xuyên xô sát, mâu thuẫn, cãi chửi nhau dẫn đến cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2017, mỗi người sống một nơi không quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị xin được ly hôn với anh Nhân. chung tên là Nông Khả Ngân, sinh ngày 19/10/2014. Nay ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu Nông Khả Ngân, không yêu cầu anh Nhphải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyễn Thị H trình bày là đúng sự thật. Về mâu thuẫn vợ chồng anh cho rằng chị Htrình bày là không đúng, thực tế vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng, vẫn có khả năng khắc phục được. Nguyên Nhphát sinh là do hoàn cảnh gia đình, anh phải đi làm để lấy tiền trang trải cuộc sống của bản thân cũng như gia đình, công việc của anh phải làm đêm và có khi làm cả đêm chính vì vậy không có sự chăm sóc quan tâm đến vợ con, anh nghĩ mâu thuẫn này anh sẽ khắc phục được. Chị Hnói vợ chồng sông ly thân từ tháng 9/2017 chị về nhà mẹ để để ở là không đúng mà chị Hvề nhà mẹ đẻ ở từ 12/2017, khi ly thân thì cứ có thời gian anh xuống thăm vợ và con. vì vậy anh không nhất trí ly hôn. Ngân, sinh ngày 19/10/2014. Nay ly hôn anh cũng có nguyện vọng nuôi cháu dưỡng nuôi con chung. Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm. đình năm 2014. Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử: 1. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Danh Nh. giáo dục cháu Nông Khả Ngân, sinh ngày 19/10/2014 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Danh Nh không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. được cản trở. phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo biên lai số 0004944 ngày 09/3/2018. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Duy Chiến NỘI DUNG VỤ ÁN Trong đơn khởi kiện ngày 27/6/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án * Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Danh Nh kết hôn với nhau Về con: Vợ chồng sinh được hai con chung, cháu thứ nhất Nguyễn Ngọc Tại bản khai ngày 11/7/2018 bị đơn anh Nguyễn Danh Nh trình bày: * Về quan hệ hôn nhân: Anh công nhận về thời gian và địa điểm đăng ký * Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh xác nhận có 02 người Tại phiên tòa anh Nguyễn Danh Nh vắng mặt, chị Nguyễn Thị H vẫn giữ Căn cứ Điều 55; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn Nhvà Gia Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, 2. Về con: Chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, Anh Nguyễn Danh Nh không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Nguyễn Danh Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai 3. Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn) tiền án Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật 4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong Nơi đăng ký hộ khẩu: Tổ 19, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Nơi ở hiện nay: Số nhà 043, đường Trần Quốc Hoàn, tổ 19B, phường NỘI DUNG VỤ ÁN Trong đơn khởi kiện ngày 02/3/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án Chị và anh Nguyễn Danh Nh kết hôn với nhau có đăng ký tại Uỷ ban Về con chung: Quá trình chung sống anh chị sinh được một người con Tại bản tự khai và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Danh Nh trình bày: Về hôn nhân: Anh xác nhận về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn chị Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên là Nông Khả Nông Khả Ngân đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị Hphải cấp QUAN ĐIỂM Căn cứ Điều 55; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn Nhvà Gia Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, 2. Về con: Chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, Anh Nguyễn Danh Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai 3. Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn) tiền án Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật 3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong |