vanban.org

Bản án 47/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Nguyễn Thị - Bùi Văn T"
  • Tòa quyết gì? Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2018
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Châu.

2. Bà Phạm Thị Châu Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân

huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 23 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm

2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

38/2018/QĐXX-ST ngày 19 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm 1989 - Địa chỉ: Ấp V, xã M,

huyện Đ, tỉnh A. (Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Bùi Văn T - Sinh năm 1980 - Địa chỉ: Ấp 2, xã Đ, huyện Đ,

tỉnh A. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/3/2018, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà

Nguyễn Thị L trình bày: Bà và ông Bùi Văn T xác lập quan hệ vợ chồng và có

đăng ký kết hôn ngày 11/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh A. Trong

quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc thường xuyên xảy ra mâu thuẫn,

nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và do hoàn cảnh kinh tế gia đình. Bà và

ông T ly thân từ tháng 02/2018 cho đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Bùi Văn T.

Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Yến N, sinh ngày

11/11/2011, hiện đang sống với bà L. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Bùi

Văn T vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Bùi Văn

T có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại ấp 2, xã Đ, huyện Đ, tỉnh A, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Ông Bùi Văn T được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của

Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án số 53/TB-TLVA ngày 27/3/2018, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số 75/TB-TA ngày 27/3/2018 nhưng ông T không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông T không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia phiên hòa giải, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị

đơn ông Bùi Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét đơn khởi kiện của bà L theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Bà L và ông T chung sống có đăng ký kết hôn ngày

11/8/2016 tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh A. Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử nhận định: Bà L và ông T

không ai cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, bà L cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn về kinh tế gia đình. Qua lời trình bày của bà L Hội đồng xét xử nhận định, mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã sống ly thân từ tháng 02/2018 cho đến nay và tự mỗi

người lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mối quan hệ vợ chồng

chấm dứt từ khi ly thân. Do đó, việc bà L yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ,

phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên

Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung của bà L, Hội đồng xét

xử nhận định; cháu Nguyễn Yến N, sinh ngày 11/11/2011, hiện đang sống với bà L

và do bà L trực tiếp nuôi dưỡng từ khi bà và ông T sống ly thân nên giao con chung

Nguyễn Yến N cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét việc bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung là tự

nguyện và phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà L trình bày ông bà không có tài

sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này phát sinh

tranh chấp, sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội, xét thấy: Bà L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000

đồng tiền án phí ly hôn nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân

sự sơ thẩm đã nộp. Ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật

Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Bùi Văn T.

2. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị L được quyền trực tiếp nuôi con

chung tên Nguyễn Yến N, sinh ngày 11/11/2011, hiện đang sống với bà L. Ông Bùi

Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông T được quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Khi cần thiết vì lợi ích

con chung, bà L và ông T có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu

thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền

án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0008255 ngày 27/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà L đã nộp đủ tiền án phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ

tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ