vanban.org

Bản án 47/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

228 , Điều 273, và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58 của Luật Hôn

nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông R xin ly hôn bà O"
  • Tòa quyết gì? 228 , Điều 273, và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58 của Luật Hôn
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 47/2018/HNGĐ-ST

Ngày: 02/03/2018

HUYỆN AN PHÚ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân; Ông Trần Thành Chúng Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nguyễn Thiết Bảnh – Kiểm sát viên. Trong ngày 02 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 317/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Mai Thành R, sinh năm: 1986 ( có mặt ) Địa chỉ: 81/3, ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. 2. Bị đơn: Bà Trần Thị O, sinh năm: 1980 ( vắng mặt ) Địa chỉ: Ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu và chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông R trình bày: Ông và bà O kết hôn năm 2005, hôn nhân do người lớn hai bên mai mối và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Thời gian chung sống ban đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do cả hai không cùng chung tiếng nói, bà O thường xuyên bỏ nhà đi sau mỗi lần cự cãi và sau khi sinh con thì giao con cho ông R nuôi rồi bỏ đi đâu không biết. Hiện cả hai người đã sống ly thân từ năm 2008 đến nay, trong thời gian không còn chung sống không có liên lạc với nhau và bà O cũng không có về thăm con. Nay cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, xin ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Mai Phú Q, sinh ngày 18/5/2006 hiện đang sống chung với ông R. Ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà O cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà O không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông R. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp để các đương sự thực hiện quyền tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải động viên ông bà chung sống lại nhưng bà O vắng mặt, do vậy không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa ông R vẫn bảo lưu ý kiến như đã trình bày tại phiên hòa giải. Bà O vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng phát biểu : Đối với Thẩm phán, quá trình giải quyết vụ án đã xác định thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng và thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi, thủ tục xét xử được đảm bảo. Về việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Bà O được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của ông R, xem như bà từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình và HĐXX tiến hành xử vắng mặt bà là có căn cứ. Về quan điểm giải quyết vụ án: Hôn nhân giữa bà O, ông R có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng nên ông R xin ly hôn và căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện trong thời gian không còn chung sống từ năm 2008 cho đến nay ông, bà không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Về con chung: Đề nghị giao cháu Q hiện đang sống chung với ông R cho ông tiếp tục nuôi dưỡng, bà O không phải cấp dưỡng nuôi con do ông R không yêu cầu; tài sản và nợ chung do ông R không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Do vậy đề nghị HĐXX căn cứ những quy định pháp luật về hôn nhân gia đình giải quyết theo yêu cầu của ông R.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Ông Mai Thành R khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị O. Bà O có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều

39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú. Bà O vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà. [2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông R và bà O có đăng ký kết hôn theo quy định nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình giải quyết vụ án, ông R trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn là vì thời gian chung sống bà O và ông không có cùng chung quan điểm sống, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và bà O thường bỏ nhà đi đâu không rõ, sau khi sinh con thì bỏ bê không chăm sóc. Bà O không có ý kiến đối với lời trình bày của ông R về yêu cầu ly hôn, thời gian chung sống cũng như nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Xét thấy: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và thông báo về phiên hòa giải cho bà O nhưng bà không đến tham gia hòa giải và không có ý kiến đối với yêu cầu của ông R. Theo ông R trình bày cả hai đã không còn chung sống với nhau kể từ cuối năm 2008 cho đến nay, không liên lạc qua lại. Do vậy có căn cứ cho thấy mục đích hôn nhân giữa ông, bà không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng nên yêu cầu xin ly hôn của ông R là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. [3] Về nuôi dưỡng con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông R khai cả hai có 01 con chung tên Mai Phú Q, sinh ngày 18/5/2006 hiện đang sống chung với ông và cháu Q cũng có nguyện vọng muốn sống với cha nếu cha, mẹ ly hôn. Xét thấy nguyện vọng của cháu Q là phù hợp quy đĩnh tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận, tiếp tục giao cháu Q cho ông R nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông R và người thân trong gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung của bà O. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do ông R không yêu cầu bà O cấp dưỡng nên không xem xét. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông R xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Trường hợp bà O có yêu cầu giải quyết thì có quyền khởi kiện trong một vụ án khác. [5] Về án phí: Ông R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 228 , Điều 273, và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: - Về hôn nhân: Ông Mai Thành R và bà Trần Thị O được ly hôn. - Về con chung: Giao cháu Mai Phú Q, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2006, hiện đang sống với ông R cho ông R tiếp tục nuôi dưỡng. Bà O được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Ông R và người thân trong gia đình không được cản trở quyền thăm con của bà O. - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết. - Về án phí: Ông R phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010889 ngày 24/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ khi được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ